Bài học
36/2018/QH14
Điều 63. Công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng
Căn cứ: Điều 63, 36/2018/QH14 — Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14
Tóm tắt
Người ra quyết định thanh tra, kiểm toán có trách nhiệm công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Việc công khai được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra và kiểm toán nhà nước.
Ý chính cần nhớ
- ▸Chủ thể có trách nhiệm công khai: người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán.
- ▸Đối tượng công khai: Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.
- ▸Việc công khai thực hiện theo pháp luật về thanh tra và pháp luật về kiểm toán nhà nước.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm lẫn chủ thể: không phải Trưởng đoàn thanh tra mà là người ra quyết định thanh tra.
- Cho rằng có quy trình công khai riêng trong Luật Phòng, chống tham nhũng; thực tế dẫn chiếu sang pháp luật thanh tra, kiểm toán.
Giải thích
Điều 63 quy định trách nhiệm công khai các tài liệu quan trọng trong hoạt động thanh tra, kiểm toán khi có dấu hiệu tham nhũng. Cụ thể, người ra quyết định thanh tra và người ra quyết định kiểm toán phải công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng. Tuy nhiên, Luật không quy định chi tiết trình tự, thủ tục công khai mà dẫn chiếu áp dụng theo pháp luật chuyên ngành: pháp luật về thanh tra và pháp luật về kiểm toán nhà nước. Điều này bảo đảm tính thống nhất với các văn bản pháp luật có liên quan, đồng thời tăng cường minh bạch trong phòng, chống tham nhũng.
Nguyên văn Điều 63. Công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu
hiệu tham nhũng
1. Người ra quyết định thanh tra, người ra quyết định kiểm toán có trách nhiệm
công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu tham nhũng.
2. Việc công khai Kết luận thanh tra, Báo cáo kiểm toán vụ việc có dấu hiệu
tham nhũng
được thực hiện theo quy định của pháp luật về thanh tra, pháp luật về
kiểm toán nhà nước.
36 CÔNG BÁO/Số 1137 + 1138/Ngày 23-12-2018
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.