Điều 65. Thu hồi, hủy giấy phép xây dựng
Căn cứ: Điều 65, 217/2026/NĐ-CP — Nghị định 217/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng
Tóm tắt
Điều 65 quy định các trường hợp giấy phép xây dựng bị thu hồi, thời hạn nộp lại giấy phép và hủy giấy phép nếu không nộp lại, trình tự thu hồi, hủy và quyền đề nghị cấp lại giấy phép sau khi hoàn thành nghĩa vụ.
Ý chính cần nhớ
- ▸Giấy phép xây dựng bị thu hồi khi cấp không đúng quy định pháp luật.
- ▸Giấy phép xây dựng bị thu hồi khi chủ đầu tư không khắc phục việc xây dựng sai với giấy phép trong thời hạn ghi trong văn bản xử lý vi phạm.
- ▸Hủy giấy phép xây dựng khi chủ đầu tư không nộp lại giấy phép trong vòng 10 ngày làm việc kể từ ngày có quyết định thu hồi.
- ▸Cơ quan có thẩm quyền thu hồi ban hành quyết định thu hồi trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết luận thanh tra, văn bản kiểm tra xác định thuộc trường hợp thu hồi.
- ▸Quyết định thu hồi phải được gửi cho tổ chức/cá nhân bị thu hồi, đăng tải trên trang thông tin điện tử của cơ quan thu hồi và gửi thông tin cho UBND cấp xã nơi có công trình để công bố công khai trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ban hành quyết định.
- ▸Tổ chức, cá nhân bị thu hồi giấy phép xây dựng phải nộp lại bản gốc giấy phép xây dựng (đối với giấy phép bản giấy) trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định thu hồi.
- ▸Sau khi nộp lại hoặc hủy giấy phép và hoàn thành nghĩa vụ, tổ chức, cá nhân được đề nghị cấp giấy phép xây dựng theo quy định tại Nghị định này.
Lưu ý dễ nhầm
- Dễ nhầm thời hạn nộp lại bản gốc giấy phép xây dựng (05 ngày làm việc) với thời hạn hủy giấy phép (10 ngày làm việc).
- Dễ nhầm trường hợp thu hồi với trường hợp hủy giấy phép xây dựng.
- Thời hạn ban hành quyết định thu hồi là 10 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kết luận thanh tra, văn bản kiểm tra, không phải kể từ ngày phát hiện vi phạm.
Giải thích
Nguyên văn Điều 65. Thu hồi, hủy giấy phép xây dựng
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.