Bài học
33/2024/QH15
Điều 7. Giá trị của tài liệu lưu trữ
Căn cứ: Điều 7, 33/2024/QH15 — Luật Lưu trữ số 33/2024/QH15
Tóm tắt
Điều 7 khẳng định tài liệu lưu trữ là bằng chứng về hoạt động của các chủ thể qua các thời kỳ lịch sử; có giá trị lịch sử, pháp lý, thực tiễn; tài liệu lưu trữ số có đầy đủ giá trị pháp lý như thông điệp dữ liệu.
Ý chính cần nhớ
- ▸Tài liệu lưu trữ là bằng chứng về hoạt động của Đảng, Nhà nước, xã hội và cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng qua các thời kỳ.
- ▸Tài liệu lưu trữ có ba loại giá trị: lịch sử, pháp lý, thực tiễn.
- ▸Tài liệu lưu trữ số có đầy đủ giá trị pháp lý như thông điệp dữ liệu theo pháp luật về giao dịch điện tử.
Lưu ý dễ nhầm
- Cho rằng tài liệu lưu trữ số không có giá trị pháp lý hoặc giá trị thấp hơn bản giấy.
- Liệt kê thiếu giá trị thực tiễn hoặc nhầm lẫn giữa giá trị lịch sử và giá trị pháp lý.
- Bỏ sót chủ thể 'cộng đồng' trong khái niệm bằng chứng.
Giải thích
Điều 7 Luật Lưu trữ số 33/2024/QH15 làm rõ giá trị của tài liệu lưu trữ. Khoản 1 xác định tài liệu lưu trữ là bằng chứng về hoạt động của Đảng, Nhà nước, xã hội và cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng đồng qua các thời kỳ lịch sử Việt Nam. Khoản 2 nêu ba loại giá trị: giá trị lịch sử, giá trị pháp lý và giá trị thực tiễn trong đời sống xã hội. Đặc biệt, khoản 3 khẳng định tài liệu lưu trữ số có đầy đủ giá trị pháp lý như thông điệp dữ liệu theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Điều này tạo cơ sở pháp lý quan trọng để số hóa và sử dụng tài liệu lưu trữ số trong thực tiễn.
Nguyên văn Điều 7. Giá trị của tài liệu lưu trữ
1. Tài liệu lưu trữ là bằng chứng về hoạt động của Đảng, Nhà nước, xã hội và
cơ quan, tổ chức, cá nhân, gia đình, dòng họ, cộng
đồng qua các thời kỳ lịch sử của
Việt Nam.
2. Tài liệu lưu trữ có giá trị lịch sử, giá trị pháp lý và giá trị thực tiễn trong các
lĩnh vực của đời sống xã hội.
3. Tài liệu lưu trữ số có đầy đủ giá trị pháp lý như thông điệp dữ liệu theo quy
định của pháp luật về giao dịch điện tử.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.