Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 41/2024/QH15

Điều 72. Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để tính lương hưu, trợ cấp một lần

Căn cứ: Điều 72, 41/2024/QH15 — Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15

Tóm tắt

Điều 72 quy định cách tính mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần. Có ba nhóm: người lao động có toàn bộ thời gian đóng theo chế độ tiền lương Nhà nước; toàn bộ thời gian đóng theo chế độ tiền lương người sử dụng lao động quyết định; và người vừa có cả hai loại thời gian.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Người lao động thuộc chế độ tiền lương Nhà nước, bắt đầu tham gia trước 01/01/1995: bình quân 05 năm cuối.
  • ▸Bắt đầu từ 01/01/1995 – 31/12/2000: bình quân 06 năm cuối.
  • ▸Bắt đầu từ 01/01/2001 – 31/12/2006: bình quân 08 năm cuối.
  • ▸Bắt đầu từ 01/01/2007 – 31/12/2015: bình quân 10 năm cuối.
  • ▸Bắt đầu từ 01/01/2016 – 31/12/2019: bình quân 15 năm cuối.
  • ▸Bắt đầu từ 01/01/2020 – 31/12/2024: bình quân 20 năm cuối.
  • ▸Từ 01/01/2025 trở đi: bình quân toàn bộ thời gian đóng.
  • ▸Toàn bộ thời gian đóng theo chế độ tiền lương người sử dụng lao động quyết định: bình quân toàn bộ thời gian.
  • ▸Người có cả hai loại thời gian: tính bình quân chung, trong đó phần thời gian Nhà nước áp dụng quy định tại khoản 1.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm mốc thời gian bắt đầu tham gia với mốc thời gian đóng.
  • Nhầm số năm cuối giữa các giai đoạn (5, 6, 8, 10, 15, 20, toàn bộ).
  • Nhầm người có cả hai loại thời gian phải tách riêng hoàn toàn; thực tế tính bình quân chung, nhưng thời gian Nhà nước áp dụng khoản 1.

Giải thích

Điều 72 xác định mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng BHXH để tính lương hưu, trợ cấp một lần. Với người có toàn bộ thời gian đóng theo chế độ tiền lương Nhà nước, tùy mốc bắt đầu tham gia BHXH mà tính bình quân 5, 6, 8, 10, 15, 20 năm cuối hoặc toàn bộ thời gian. Cụ thể: trước 1995 – 5 năm; 1995–2000 – 6 năm; 2001–2006 – 8 năm; 2007–2015 – 10 năm; 2016–2019 – 15 năm; 2020–2024 – 20 năm; từ 2025 trở đi – toàn bộ. Nếu toàn bộ thời gian đóng theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân toàn bộ thời gian. Trường hợp vừa có thời gian Nhà nước vừa có thời gian người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân chung, trong đó thời gian Nhà nước áp dụng quy định tại khoản 1.
Nguyên văn Điều 72. Mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội để
tính lương hưu, trợ cấp một lần 1. Người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương này thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của số năm đóng bảo hiểm xã hội trước khi nghỉ hưu như sau: a) Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trước ngày 01 tháng 01 năm 1995 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 05 năm cuối trước khi nghỉ hưu; b) Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 1995 đến ngày 31 tháng 12 năm 2000 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 06 năm cuối trước khi nghỉ hưu; c) Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2001 đến ngày 31 tháng 12 năm 2006 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 08 năm cuối trước khi nghỉ hưu; d) Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội trong khoảng thời gian từ ngày 01 tháng 01 năm 2007 đến ngày 31 tháng 12 năm 2015 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 10 năm cuối trước khi nghỉ hưu; đ) Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2016 đến ngày 31 tháng 12 năm 2019 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 15 năm cuối trước khi nghỉ hưu; e) Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2020 đến ngày 31 tháng 12 năm 2024 thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của 20 năm cuối trước khi nghỉ hưu; g) Bắt đầu tham gia bảo hiểm xã hội từ ngày 01 tháng 01 năm 2025 trở đi thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội. 2. Người lao động có toàn bộ thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội của toàn bộ thời gian. 3. Người lao động vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định thì tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội chung của các thời gian, trong đó thời gian đóng theo chế độ tiền lương do Nhà nước quy định được tính bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội theo quy định tại khoản 1 Điều này. 4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này và quy định mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội đối với người lao động thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định trong một số trường hợp đặc biệt.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.