Nguyên văn Điều 76. Điều khoản chuyển tiếp
1. Dự án, công trình xây dựng đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng
thông báo kết quả thẩm định thiết kế cơ sở, Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc
thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi một phần theo giai đoạn thực hiện của
dự án trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì không phải thẩm định lại theo
quy định của Nghị định này. Việc thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi các
giai đoạn còn lại của dự án, điều chỉnh dự án thực hiện theo quy định của
Nghị định này.
2. Dự án đã trình cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định hoặc thẩm
định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh trước ngày Nghị định này có hiệu
lực thi hành và đủ điều kiện thẩm định nhưng chưa có thông báo kết quả thẩm
định thì cơ quan chuyên môn về xây dựng tiếp tục thẩm định theo quy định của
Nghị định số 175/2024/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chính phủ quy
định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Xây dựng về quản lý hoạt
động xây dựng. Trường hợp không đủ điều kiện thẩm định hoặc kết quả thẩm
định là chưa đủ điều kiện để tổng hợp, trình phê duyệt thì việc thẩm định Báo
cáo nghiên cứu khả thi thực hiện theo quy định của Nghị định này.
3. Công trình hoặc một phần công trình xây dựng đã được cơ quan chuyên
môn về xây dựng thông báo kết quả thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau
thiết kế cơ sở, thiết kế xây dựng điều chỉnh và được phê duyệt đúng quy định
trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì việc triển khai các bước tiếp theo của
công trình hoặc các phần còn lại của công trình (bao gồm cả việc điều chỉnh
thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê duyệt) thực hiện theo quy
định của Nghị định này.
4. Công trình hoặc một phần công trình xây dựng đã được cơ quan chuyên
môn về xây dựng thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở, thiết
kế xây dựng điều chỉnh trước ngày Nghị định này có hiệu lực nhưng chưa được
phê duyệt thì việc phê duyệt và triển khai các bước tiếp theo thực hiện theo quy
định tại Nghị định này.
5. Công trình hoặc một phần công trình xây dựng đã trình cơ quan chuyên
môn về xây dựng thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau thiết kế cơ sở hoặc
thiết kế xây dựng điều chỉnh mà đến ngày Nghị định này có hiệu lực chưa có
thông báo kết quả thẩm định thì cơ quan chuyên môn về xây dựng dừng việc
thẩm định và có văn bản gửi chủ đầu tư để nhận lại hồ sơ trình thẩm định. Chủ
đầu tư thực hiện thẩm định thiết kế xây dựng triển khai sau khi dự án được phê
duyệt, thiết kế xây dựng điều chỉnh và triển khai các bước tiếp theo theo quy
định tại Luật Xây dựng năm 2025 và Nghị định này.
6. Quy hoạch vùng liên huyện trong thời hạn hiệu lực của quy hoạch theo
quy định của pháp luật về quy hoạch và đô thị nông thôn được sử dụng làm căn
cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án hạ tầng kỹ thuật khung. Quy hoạch có
tính chất kỹ thuật chuyên ngành còn hiệu lực theo pháp luật về quy hoạch được
sử dụng làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án thuộc lĩnh vực kết
cấu hạ tầng được xác định tại quy hoạch này.
7. Dự án đã được cơ quan chuyên môn về xây dựng thẩm định thiết kế cơ
sở, Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh toàn bộ
hoặc một phần theo giai đoạn thực hiện trước ngày Nghị định này có hiệu lực
thi hành thì thẩm quyền thẩm định được quy định như sau:
a) Cơ quan chuyên môn về xây dựng đã thực hiện thẩm định thiết kế cơ
sở, Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh thì cơ
quan này tiếp tục thực hiện thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi các giai đoạn
còn lại của dự án hoặc thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh của dự
án. Trường hợp đã được cả cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc bộ quản lý
công trình xây dựng chuyên ngành và cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định thì thẩm quyền thẩm định thực hiện theo
quy định tại Điều 32, Điều 33 Nghị định này;
b) Riêng đối với dự án đầu tư xây dựng thuộc địa bàn thành phố Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh thì thẩm quyền thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi
các giai đoạn còn lại của dự án hoặc thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi
điều chỉnh của dự án thực hiện theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều 33
Nghị định này.
8. Dự án thuộc địa bàn từ 02 xã, phường trở lên đã được cơ quan chuyên
môn về xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện thẩm định thiết kế cơ sở,
Báo cáo nghiên cứu khả thi toàn bộ hoặc một phần theo giai đoạn thực hiện
trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì thẩm quyền thẩm định Báo
cáo nghiên cứu khả thi các giai đoạn còn lại của dự án hoặc thẩm định Báo cáo
nghiên cứu khả thi điều chỉnh thuộc cơ quan chuyên môn về xây dựng thuộc
Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thẩm định.
9. Dự án đã được Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ quản
lý đầu tư về xây dựng theo quy định trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi
hành thì thẩm quyền thực hiện được chuyển về Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ
quan chuyên môn về xây dựng thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã tại khu vực thực
hiện dự án đầu tư xây dựng.
10. Dự án, công trình xây dựng khẩn cấp theo quy định tại điểm a khoản
1 Điều 130 Luật Xây dựng năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 62/2020/QH14 đã ban hành lệnh xây dựng công trình khẩn cấp
trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện; các công
việc chưa triển khai được thực hiện theo quy định của Nghị định này.
11. Dự án, công trình xây dựng khẩn cấp theo quy định tại điểm b khoản
1 Điều 130 Luật Xây dựng năm 2014 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều
theo Luật số 62/2020/QH14 đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định các cơ
chế đặc thù thì tiếp tục thực hiện; cơ quan, tổ chức, cá nhân được giao quản
lý thực hiện xây dựng công trình được quyết định áp dụng các quy định đối
với dự án, công trình xây dựng cấp bách của Nghị định này cho các công việc
chưa triển khai thực hiện.
12. Dự án đầu tư xây dựng đã được xác định về nguồn vốn sử dụng tại
quyết định phê duyệt dự án hoặc tại các văn bản pháp lý khác của cơ quan có
thẩm quyền hoặc trường hợp có thay đổi nguồn vốn đầu tư trong quá trình triển
khai dự án trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì khi triển khai các công việc
tiếp theo được thực hiện quản lý tương ứng với hình thức đầu tư của dự án theo
quy định của Nghị định này.
13. Các dự án đầu tư xây dựng, công trình xây dựng đã được thẩm định,
phê duyệt, cấp giấy phép xây dựng có nội dung về công trình ngầm, phần ngầm
công trình phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng trước ngày Nghị
định này có hiệu lực thì được tiếp tục thực hiện. Việc đánh giá sự phù hợp
với quy hoạch được sử dụng làm căn cứ lập dự án khi thẩm định Báo cáo nghiên
cứu khả thi và cấp giấy phép xây dựng (bao gồm trường hợp điều chỉnh) đối
với công trình công cộng ngầm, công trình giao thông ngầm, công trình xây
dựng cho mục đích kết nối không gian ngầm được thực hiện theo quy định của
Nghị định này.
14. Việc chuyển tiếp thực hiện dự án áp dụng loại hợp đồng Xây dựng -
Chuyển giao (BT) được thực hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư theo
phương thức đối tác công tư. Trường hợp dự án BT được chuyển tiếp theo quy
định của pháp luật về đầu tư theo phương thức đối tác công tư thì khi triển khai
các bước tiếp theo (bao gồm cả việc điều chỉnh), thẩm quyền, nội dung và trình
tự thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi, Báo cáo nghiên cứu khả thi điều chỉnh
của cơ quan chuyên môn về xây dựng được thực hiện theo quy định đối với dự
án PPP của Nghị định này.
15. Đối với dự án đầu tư xây dựng đã được cơ quan chuyên môn về xây
dựng thẩm định thiết kế cơ sở một hoặc một số công trình thuộc dự án theo quy
định của Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung theo Luật số
62/2020/QH14, khi thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi theo quy định của
Nghị định này, cơ quan chuyên môn về xây dựng chỉ thực hiện thẩm định đối
với các công trình còn lại của dự án.
16. Cơ quan, tổ chức đã được người quyết định đầu tư giao làm chủ đầu
tư dự án đầu tư công trước ngày Nghị định này có hiệu lực thì được tiếp tục
thực hiện nhiệm vụ được giao.
17. Ban quản lý dự án chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực được
thành lập trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì không phải thành
lập lại theo quy định của Nghị định này. Hoạt động của ban quản lý dự án
chuyên ngành, ban quản lý dự án khu vực thực hiện như ban quản lý dự án đầu
tư xây dựng theo quy định của Nghị định này.
18. Hình thức quản lý dự án đầu tư xây dựng đã được áp dụng cho dự án
trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện, trường hợp
có nhu cầu thay đổi thì được thực hiện theo quy định tại Nghị định này.
19. Đối với hồ sơ đề nghị cấp, điều chỉnh, gia hạn, cấp lại giấy phép xây
dựng đã nộp theo quy định tại Nghị định số 175/2024/NĐ-CP tại cơ quan cấp
giấy phép xây dựng trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành nhưng chưa
được cấp giấy phép xây dựng thì việc cấp giấy phép xây dựng được tiếp tục
thực hiện theo quy định tại Nghị định số 175/2024/NĐ-CP.
20. Trường hợp dự án đầu tư xây dựng đã được cấp giấy phép xây dựng
theo giai đoạn hoặc cho một hoặc một số công trình của dự án theo quy định
tại Nghị định số 175/2024/NĐ-CP, thẩm quyền cấp giấy phép xây dựng đối với
các giai đoạn tiếp theo hoặc các công trình còn lại của dự án được thực hiện
theo quy định tại Nghị định này.
21. Đối với công trình xây dựng thuộc dự án đầu tư xây dựng quy định tại
khoản 4 Điều này thì quy hoạch làm căn cứ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi
đồng thời là cơ sở để xem xét cấp giấy phép xây dựng.
22. Việc điều chỉnh, gia hạn, cấp lại và thu hồi giấy phép xây dựng đối với
công trình xây dựng đã được Ủy ban nhân dân cấp huyện cấp do Ủy ban nhân
dân cấp xã thực hiện.
23. Đối với các dự án được xác định là dự án đầu tư xây dựng khu đô
thị tại quy hoạch xây dựng hoặc chủ trương đầu tư được cơ quan có thẩm
quyền phê duyệt hoặc quyết định hoặc chấp thuận trước thời điểm Nghị định
số 15/2021/NĐ-CP ngày 03 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ quy định một số
nội dung về quản lý dự án đầu tư xây dựng có hiệu lực thi hành mà không đáp
ứng quy mô quy định tại điểm 1 mục VIII Phụ lục III ban hành kèm theo Nghị
định này thì không yêu cầu thực hiện các quy định riêng về khu đô thị theo quy
định của Nghị định này.