Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 216/2025/NĐ-CP

Điều 76. Trình tự, thủ tục giải quyết kiến nghị, phản ánh trong hoạt động thanh tra

Căn cứ: Điều 76, 216/2025/NĐ-CP — Nghị định 216/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Thanh tra

Tóm tắt

Điều 76 quy định thời hạn và thẩm quyền giải quyết hai nhóm kiến nghị, phản ánh: (1) về thời gian, nội dung, phương pháp làm việc của Đoàn thanh tra do Trưởng đoàn thanh tra giải quyết; (2) về hành vi bị nghiêm cấm, hành vi vi phạm pháp luật của Trưởng đoàn và thành viên Đoàn thanh tra do người ra quyết định thanh tra giải quyết.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Nhóm 1: kiến nghị, phản ánh về thời gian, nội dung, phương pháp làm việc của Đoàn thanh tra, Trưởng đoàn, thành viên Đoàn thanh tra.
  • ▸Thời hạn giải quyết nhóm 1: 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kiến nghị, phản ánh.
  • ▸Trưởng đoàn thanh tra giải quyết nhóm 1; nếu vượt thẩm quyền phải báo cáo người ra quyết định thanh tra xem xét, xử lý và thông báo cho người kiến nghị, phản ánh.
  • ▸Nhóm 2: kiến nghị, phản ánh về hành vi bị nghiêm cấm, hành vi vi phạm pháp luật trong thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn và thành viên Đoàn thanh tra.
  • ▸Thời hạn giải quyết nhóm 2: 15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, phản ánh.
  • ▸Người ra quyết định thanh tra giải quyết nhóm 2; có thể giao người giám sát hoặc đơn vị, cá nhân xác minh nội dung kiến nghị, phản ánh khi cần thiết.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn 05 ngày làm việc (nhóm 1) với 15 ngày (nhóm 2).
  • Nhầm thẩm quyền: Trưởng đoàn thanh tra chỉ giải quyết nhóm 1, còn nhóm 2 do người ra quyết định thanh tra giải quyết.

Giải thích

Điều 76 Nghị định 216/2025/NĐ-CP chia kiến nghị, phản ánh trong hoạt động thanh tra thành hai nhóm để giải quyết. Nhóm thứ nhất liên quan đến thời gian, nội dung, phương pháp làm việc của Đoàn thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra. Với nhóm này, Trưởng đoàn thanh tra phải xem xét, giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, phản ánh trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kiến nghị, phản ánh. Nếu vượt quá thẩm quyền, Trưởng đoàn thanh tra báo cáo người ra quyết định thanh tra xem xét, xử lý và thông báo cho người kiến nghị, phản ánh biết. Nhóm thứ hai liên quan đến hành vi bị nghiêm cấm, hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra và thành viên Đoàn thanh tra. Nhóm này do người ra quyết định thanh tra xem xét, giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, phản ánh trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, phản ánh. Khi cần thiết, người ra quyết định thanh tra giao người giám sát hoặc đơn vị, cá nhân xác minh nội dung kiến nghị, phản ánh để xem xét, giải quyết.
Nguyên văn Điều 76. Trình tự, thủ tục giải quyết kiến nghị, phản ánh trong hoạt động
thanh tra 1. Giải quyết kiến nghị, phản ánh về các vấn đề liên quan đến thời gian, nội dung, phương pháp làm việc của Đoàn thanh tra, Trưởng đoàn thanh tra, thành viên Đoàn thanh tra Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận được kiến nghị, phản ánh, Trưởng đoàn thanh tra có trách nhiệm xem xét, giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, phản ánh biết. Trường hợp vượt quá thẩm quyền, Trưởng đoàn thanh tra phải báo cáo người ra quyết định thanh tra xem xét, xử lý theo quy định và thông báo cho người kiến nghị, phản ánh biết. 2. Giải quyết kiến nghị, phản ánh về hành vi bị nghiêm cấm, hành vi vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Trưởng đoàn thanh tra và thành viên Đoàn thanh tra Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được kiến nghị, phản ánh, người ra quyết định thanh tra có trách nhiệm xem xét, giải quyết và thông báo cho người kiến nghị, phản ánh biết. Trong trường hợp cần thiết, người ra quyết định thanh tra giao người giám sát hoặc đơn vị, cá nhân xác minh nội dung kiến nghị, phản ánh để xem xét, giải quyết.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.