Bài học
59/2025/TT-BKHCN
Điều 78. Lưu giữ chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng
Căn cứ: Điều 78, 59/2025/TT-BKHCN — Thông tư 59/2025/TT-BKHCN Quy định về bảo đảm an toàn bức xạ và ứng phó sự cố bức xạ và hạt nhân
Tóm tắt
Quy định về lưu giữ chất thải phóng xạ, nước thải phóng xạ và nguồn phóng xạ đã qua sử dụng; yêu cầu thiết kế kho lưu giữ, bể lưu giữ và kiểm tra định kỳ.
Ý chính cần nhớ
- ▸Chất thải rắn và nước thải phóng xạ đã thu gom vào bình phải lưu giữ trong kho tại cơ sở phát sinh để chờ phân rã hoặc chuyển đi xử lý.
- ▸Nước thải phóng xạ không thu gom vào bình phải lưu giữ trong bể chờ xử lý hoặc phân rã.
- ▸Nguồn phóng xạ hết sử dụng phải lưu giữ trong kho cho đến khi chuyển giao cho người khác, cơ sở lưu giữ hoặc trả nhà sản xuất/cung cấp nước ngoài.
- ▸Kho lưu giữ phải đáp ứng yêu cầu về diện tích, vị trí, khả năng chống ngập, che chắn an toàn bức xạ (suất liều bề mặt ngoài ≤ 0,5 µSv/h) và có khóa an ninh.
- ▸Kho lưu giữ kiện/khối/công-ten-nơ đã điều kiện hóa phải có thêm hệ thống thông gió, chống cháy nổ, thiết bị thu gom rò rỉ, thiết bị bốc xếp, hàng rào, biển cảnh báo và hệ thống bảo vệ.
- ▸Bể lưu giữ nước thải phóng xạ phải đặt nơi ít người, tránh mưa ngập, dung tích phù hợp, suất liều mặt ngoài ≤ 0,5 µSv/h và không rò rỉ.
- ▸Cơ sở lưu giữ phải kiểm tra mức bức xạ hàng quý và kiểm tra rò rỉ nhân phóng xạ định kỳ 06 tháng.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm lẫn giữa yêu cầu đối với kho lưu giữ chất thải phóng xạ thông thường (khoản 4) và kho lưu giữ kiện/khối đã điều kiện hóa (khoản 6).
- Cho rằng nước thải phóng xạ luôn phải thu gom vào bình; thực tế có thể lưu giữ trong bể nếu không thu gom vào bình.
- Quên giới hạn suất liều bức xạ 0,5 µSv/h áp dụng cho cả kho lưu giữ và bể lưu giữ nước thải.
Giải thích
Điều 78 quy định việc lưu giữ chất thải phóng xạ và nguồn phóng xạ đã qua sử dụng. Chất thải rắn và nước thải đã thu gom vào bình phải được lưu giữ tại kho của cơ sở phát sinh để chờ phân rã hoặc chuyển đi xử lý. Nước thải không thu gom vào bình thì lưu giữ trong bể. Nguồn phóng xạ hết sử dụng phải lưu giữ cho đến khi chuyển giao hoặc trả lại nhà sản xuất. Kho lưu giữ phải thiết kế với diện tích đủ rộng, một cửa ra vào, không cửa sổ, tường/sàn dễ tẩy xạ, đặt xa khu vực đông người, tránh ngập lụt, có khóa an ninh và đảm bảo suất liều bề mặt ngoài không quá 0,5 µSv/h. Kho chứa kiện/khối đã điều kiện hóa còn cần thêm hệ thống thông gió, chống cháy nổ, thiết bị thu gom rò rỉ, bốc xếp, hàng rào và biển cảnh báo. Bể lưu giữ nước thải phóng xạ cũng phải đặt nơi ít người, tránh mưa ngập, đủ dung tích và không rò rỉ. Cuối cùng, cơ sở lưu giữ phải kiểm tra mức bức xạ hàng quý và kiểm tra rò rỉ nhân phóng xạ định kỳ 06 tháng.
Nguyên văn Điều 78. Lưu giữ chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng
1. Chất thải phóng xạ dạng rắn và nước thải phóng xạ sau khi thu gom vào bình đựng phải được lưu giữ trong kho lưu giữ tại cơ sở nơi phát sinh chất thải để chờ phân rã trước khi thải ra môi trường hoặc chờ để chuyển đi xử lý, điều kiện hóa hoặc chuyển đến cơ sở lưu giữ chất thải phóng xạ.
2. Nước thải phóng xạ nếu không được thu gom vào bình đựng phải được thu gom và lưu giữ trong các bể lưu giữ chờ xử lý hoặc chờ phân rã.
3. Nguồn phóng xạ sau khi chấm dứt sử dụng phải được lưu giữ trong kho lưu giữ cho đến khi chuyển giao cho người sử dụng khác, chuyển giao cho cơ sở lưu giữ chất thải phóng xạ hoặc chuyển trả cho nhà sản xuất, nhà cung cấp nước ngoài.
4. Kho lưu giữ chất thải phóng xạ, nguồn phóng xạ đã qua sử dụng phải được bố trí và thiết kế bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Diện tích của kho phải đủ rộng để có thể sắp xếp các thùng, bao, túi, bình đựng chất thải thu gom có thứ tự, dễ đưa vào và lấy ra khi cần thiết và bảo đảm duy trì trạng thái dưới tới hạn nếu lưu giữ vật liệu hạt nhân; kho lưu giữ chỉ có một cửa ra vào, không có cửa sổ và được xây dựng chắc chắn, bề mặt tường và sàn kho phải làm bằng vật liệu dễ tẩy xạ;
b) Đặt tại khu vực ít người qua lại và không được đặt liền kề khoa sản, khoa nhi đối với kho lưu giữ chất thải phóng xạ của tổ chức, cá nhân tiến hành công việc bức xạ trong trong y tế, cách xa nơi lưu giữ vật liệu nguy hiểm bao
gồm chất nổ, chất dễ cháy và cách xa nguồn nước sinh hoạt;
c) Có khả năng chống ngập lụt, chống tác hại tự nhiên (nóng, ẩm, mưa);
d) Thiết kế che chắn an toàn bức xạ của kho lưu giữ phải bảo đảm suất liều bức xạ bề mặt bên ngoài cửa ra vào, tường kho không vượt quá 0,5 µSv/h;
đ) Có khóa an ninh lắp cho cửa ra vào kho.
5. Kiện chất thải phóng xạ điều kiện hóa, khối điều kiện hóa nguồn phóng xạ đã qua sử dụng và công-ten-nơ chứa nguồn phóng xạ đã qua sử dụng phải được lưu giữ trong kho tại cơ sở lưu giữ chất thải phóng xạ.
6. Kho lưu giữ kiện chất thải phóng xạ điều kiện hóa, khối điều kiện hóa nguồn phóng xạ đã qua sử dụng, công-ten-nơ chứa nguồn phóng xạ đã qua sử dụng tại cơ sở lưu giữ chất thải phóng xạ phải được bố trí và thiết kế bảo đảm:
a) Các yêu cầu như đối với kho lưu giữ chất thải phóng xạ theo quy định tại khoản 4 Điều này;
b) Có hệ thống thông gió để xử lý khí phóng xạ và nhiệt thoát ra từ các kiện chất thải phóng xạ được lưu giữ;
c) Có hệ thống chống cháy nổ;
d) Có các thiết bị thích hợp để thu gom chất phóng xạ bị rò rỉ;
đ) Có thiết bị bốc xếp thích hợp;
e) Có hàng rào bảo vệ, có biển cảnh báo bức xạ;
g) Bố trí hệ thống bảo vệ thích hợp.
7. Bể lưu giữ nước thải phóng xạ phải được thiết kế bảo đảm các yêu cầu sau:
a) Được đặt tại vị trí có ít người qua lại và tránh được tác động của điều kiện tự nhiên như mưa, ngập lụt;
b) Dung tích bể phải phù hợp với lượng nước thải phóng xạ cần thu gom và thời gian lưu giữ dự kiến;
c) Thiết kế phải bảo đảm suất liều bức xạ mặt ngoài bể nơi có thể tiếp cận không vượt quá 0,5 µSv/h, không rò rỉ nước thải phóng xạ ra môi trường và nguồn nước ngầm.
8. Cơ sở lưu giữ chất thải phóng xạ phải thường xuyên kiểm tra điều kiện bảo đảm an toàn của kho lưu giữ, bể lưu giữ nước thải phóng xạ, cụ thể:
a) Định kỳ hàng quý phải kiểm tra mức bức xạ trong và ngoài kho, khu vực xung quanh các bể lưu giữ nước thải phóng xạ;
b) Định kỳ 06 tháng phải kiểm tra sự rò rỉ các loại nhân phóng xạ ra môi trường.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.