Nguyên văn Điều 8. Ứng dụng mô hình thông tin công trình (BIM) trong hoạt động
xây dựng và các giải pháp công nghệ số
1. Việc áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng được quy định như sau:
a) Đối với các công trình xây dựng mới từ cấp II trở lên, áp dụng kể từ
giai đoạn lập Báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc Báo cáo kinh tế - kỹ thuật. Người
quyết định đầu tư quyết định việc không áp dụng BIM đối với dự án đầu tư xây
dựng công trình theo tuyến, dự án đầu tư xây dựng tại khu vực có tính chất đặc
thù, dự án có yêu cầu bảo đảm bí mật nhà nước để đảm bảo tính khả thi, phù
hợp với điều kiện thực hiện thực tế của dự án;
b) Đối với các công trình không thuộc đối tượng quy định tại điểm a khoản
này, khuyến khích chủ đầu tư chủ động áp dụng BIM trong đầu tư xây dựng và
cung cấp tệp tin BIM theo quy định tại khoản 3 và điểm đ khoản 5 Điều này.
2. Phạm vi, nội dung thực hiện và các yêu cầu thông tin cần thiết của BIM
đối với công trình áp dụng BIM sẽ được thực hiện theo thỏa thuận được nêu tại
hợp đồng của các bên có liên quan tại từng giai đoạn của dự án.
3. Đối với các công trình quy định tại điểm a khoản 1 Điều này, ngoài các
hồ sơ trình thẩm định theo quy định của Nghị định này, chủ đầu tư, cơ quan
chuẩn bị dự án có trách nhiệm nộp dữ liệu BIM của công trình cho cơ quan
chuyên môn về xây dựng theo quy định sau:
a) Dữ liệu BIM được nộp theo các định dạng chuẩn mở IFC hoặc các định
dạng mở khác phù hợp với đặc thù, tính chất của công trình;
b) Cơ quan có thẩm quyền được yêu cầu chủ đầu tư, cơ quan chuẩn bị dự
án nộp định dạng gốc để đối chiếu. Định dạng dữ liệu gốc phải bảo đảm tính
nguyên bản, giữ nguyên các tham số, cấu trúc đối tượng và thuộc tính của mô
hình;
c) Nội dung dữ liệu BIM nộp cho cơ quan chuyên môn về xây dựng phải
có các thông tin thể hiện được vị trí, hình dạng không gian ba chiều của công
trình, trong đó thể hiện đầy đủ kích thước chủ yếu các bộ phận chính của công
trình, phương án kết nối hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài công trình. Trường hợp
yêu cầu quản lý ở mức cao hơn, nội dung dữ liệu BIM thực hiện theo hướng
dẫn của Bộ Xây dựng.
4. Dữ liệu BIM là tài nguyên số được tạo lập, quản lý và khai thác trong
quá trình thực hiện dự án đầu tư xây dựng. Đối với các công trình cấp I trở lên
thuộc dự án đầu tư công áp dụng BIM theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều
này, chủ đầu tư có trách nhiệm thiết lập, quản lý và vận hành Môi trường dữ
liệu chung (CDE) để quản lý, lưu trữ, chia sẻ và kiểm soát thông tin của dự án.
Mô hình BIM đã được chủ đầu tư chấp thuận, phát hành trên Môi trường dữ
liệu chung (CDE) được sử dụng làm cơ sở đối chiếu, kiểm tra và làm rõ các nội
dung kỹ thuật.
Đối với các cấp công trình khác, khuyến khích chủ đầu tư chủ động thiết
lập, quản lý và vận hành Môi trường dữ liệu chung (CDE) để quản lý, lưu trữ,
chia sẻ và kiểm soát thông tin của dự án.
5. Việc sử dụng mô hình BIM để hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về hoạt
động xây dựng được thực hiện như sau:
a) Bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành, Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh có trách nhiệm xây dựng và tổ chức thực hiện lộ trình chuyển đổi sang sử
dụng mô hình BIM trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng, bảo đảm phù
hợp với điều kiện thực tế, năng lực tổ chức thực hiện và hạ tầng kỹ thuật;
b) Trường hợp cơ quan quản lý nhà nước đủ điều kiện về hạ tầng kỹ thuật,
nhân lực và hệ thống công nghệ để sử dụng hoàn toàn mô hình BIM trong công
tác quản lý, mô hình BIM được sử dụng thay thế hồ sơ thiết kế dưới dạng giấy
và có giá trị pháp lý tương đương; chủ đầu tư không phải nộp hồ sơ bản vẽ thiết
kế dưới dạng giấy đối với các nội dung đã được thể hiện đầy đủ, chính xác trong
mô hình;
c) Cơ quan chuyên môn về xây dựng được sử dụng dữ liệu BIM để phục
vụ các hoạt động thẩm định, kiểm tra công tác nghiệm thu. Nội dung sử dụng
dữ liệu BIM phục vụ thẩm định bao gồm: vị trí, hình khối, kích thước chủ yếu
của công trình; phương án kiến trúc, kết cấu chính; tổ chức không gian, hệ
thống kỹ thuật; kiểm tra sự tuân thủ quy chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn áp dụng;
kiểm tra xung đột kỹ thuật và trích xuất các chỉ tiêu chủ yếu;
d) Chủ đầu tư có trách nhiệm bảo đảm tính đầy đủ, chính xác và thống
nhất của dữ liệu mô hình thông tin công trình (BIM) nộp cho cơ quan chuyên
môn về xây dựng;
đ) Đối với các công trình áp dụng BIM quy định tại khoản 1 Điều này, sau
khi hoàn thành công trình, chủ đầu tư thực hiện việc cập nhật mô hình BIM
hoàn công đã được chuẩn hoá phục vụ công tác quản lý nhà nước vào Cơ sở dữ
liệu quốc gia về hoạt động xây dựng theo quy định của pháp luật về Hệ thống
thông tin, cơ sở dữ liệu quốc gia về hoạt động xây dựng; đồng thời bàn giao
cho đơn vị quản lý, vận hành công trình toàn bộ dữ liệu BIM phục vụ công tác
quản lý, vận hành và bảo trì công trình.
6. Việc quản lý, khai thác, chia sẻ và lưu trữ dữ liệu BIM và thông tin trên
Môi trường dữ liệu chung (CDE) phải tuân thủ quy định của pháp luật về an
toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, lưu trữ, sở hữu trí tuệ và các quy định pháp luật
có liên quan. Quyền và trách nhiệm của các bên liên quan đối với dữ liệu BIM
được xác định trong hợp đồng và theo quy định của pháp luật.
7. Bộ Xây dựng hướng dẫn việc áp dụng BIM trong hoạt động xây dựng.
Trường hợp cần thiết, bộ quản lý công trình xây dựng chuyên ngành ban hành
quyết định hướng dẫn chi tiết áp dụng BIM theo các giai đoạn của dự án thuộc
chuyên ngành do mình quản lý. Hướng dẫn BIM chuyên ngành phải phù hợp
với hướng dẫn chung áp dụng BIM do Bộ Xây dựng ban hành.
8. Khuyến khích tổ chức, cá nhân nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công
nghệ tiên tiến, công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động xây dựng
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, chất lượng công trình và sử dụng bền vững tài
nguyên.