Bài học
93/2026/NĐ-CP
Điều 8. Xét tuyển nhà giáo
Căn cứ: Điều 8, 93/2026/NĐ-CP — Nghị định 93/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Nhà giáo
Tóm tắt
Quy định xét tuyển nhà giáo gồm 02 vòng: Vòng 1 kiểm tra điều kiện dự tuyển tại Phiếu đăng ký dự tuyển; nếu đạt thì vào Vòng 2. Vòng 2 thực hiện theo khoản 2 Điều 7 Nghị định 93/2026/NĐ-CP.
Ý chính cần nhớ
- ▸Xét tuyển nhà giáo có 02 vòng.
- ▸Vòng 1: kiểm tra điều kiện dự tuyển tại Phiếu đăng ký dự tuyển theo yêu cầu vị trí việc làm.
- ▸Đạt Vòng 1 thì được tham dự Vòng 2.
- ▸Ngoại ngữ/tiếng dân tộc thiểu số: kiểm tra theo thông tin kê khai; sau trúng tuyển nộp bản sao văn bằng, chứng chỉ.
- ▸Nếu vị trí yêu cầu trình độ ngoại ngữ/tiếng dân tộc thiểu số trong bản mô tả công việc và khung năng lực thì cơ quan tuyển dụng phải thông báo cụ thể yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ.
- ▸Đối tượng miễn phần thi ngoại ngữ theo điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định 93/2026/NĐ-CP được xác định là đáp ứng yêu cầu ngoại ngữ/tiếng dân tộc thiểu số.
- ▸Không thuộc đối tượng miễn thì Hội đồng tuyển dụng tổ chức sát hạch năng lực ngoại ngữ/tiếng dân tộc thiểu số theo điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định 93/2026/NĐ-CP.
Lưu ý dễ nhầm
- Dễ nhầm Vòng 1 có kiểm tra ngoại ngữ trực tiếp; thực tế Vòng 1 chỉ kiểm tra theo thông tin kê khai, sau trúng tuyển mới nộp bản sao văn bằng, chứng chỉ.
- Dễ bỏ sót trường hợp vị trí yêu cầu ngoại ngữ/tiếng dân tộc thiểu số trong bản mô tả công việc và khung năng lực thì phải thông báo cụ thể.
- Nhầm đối tượng miễn phần thi ngoại ngữ vẫn phải sát hạch; thực tế được xác định là đáp ứng yêu cầu.
Giải thích
Điều 8 Nghị định 93/2026/NĐ-CP quy định xét tuyển nhà giáo theo 02 vòng. Vòng 1 kiểm tra điều kiện dự tuyển tại Phiếu đăng ký dự tuyển theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển; nếu đáp ứng đủ thì người dự tuyển được tham dự Vòng 2. Về ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số, Hội đồng tuyển dụng kiểm tra việc đáp ứng theo thông tin người dự tuyển kê khai; sau khi trúng tuyển, người trúng tuyển nộp bản sao văn bằng, chứng chỉ theo quy định. Trường hợp vị trí việc làm yêu cầu trình độ ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số trong bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm thì cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng phải thông báo cụ thể yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ. Người thuộc đối tượng được miễn phần thi ngoại ngữ theo điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định này được xác định là đáp ứng yêu cầu; nếu không thuộc đối tượng miễn thì Hội đồng tuyển dụng tổ chức sát hạch theo điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định này. Vòng 2 thực hiện theo khoản 2 Điều 7 Nghị định này.
Nguyên văn Điều 8. Xét tuyển nhà giáo
Xét tuyển nhà giáo được thực hiện theo 02 vòng như sau:
1. Vòng 1: kiểm tra điều kiện dự tuyển tại Phiếu đăng ký dự tuyển theo yêu cầu của vị trí việc làm cần tuyển, nếu đáp ứng đủ thì người dự tuyển được tham dự vòng 2.
a) Hội đồng tuyển dụng kiểm tra việc đáp ứng yêu cầu ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số theo thông tin người dự tuyển kê khai tại Phiếu đăng ký dự tuyển. Sau khi trúng tuyển, người trúng tuyển nộp bản sao văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số theo quy định;
b) Trường hợp vị trí việc làm cần tuyển yêu cầu trình độ ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số trong bản mô tả công việc và khung năng lực vị trí việc làm thì cơ quan có thẩm quyền tuyển dụng phải thông báo cụ thể yêu cầu về văn bằng, chứng chỉ ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số;
c) Trường hợp thuộc đối tượng được miễn phần thi ngoại ngữ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định này được xác định là đáp ứng yêu cầu về ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số theo yêu cầu của vị trí việc làm;
d) Trường hợp không thuộc đối tượng được miễn phần thi ngoại ngữ theo quy định tại điểm d khoản 1 Điều 7 Nghị định này thì Hội đồng tuyển dụng tổ chức sát hạch để đánh giá năng lực ngoại ngữ hoặc tiếng dân tộc thiểu số theo yêu cầu của vị trí tuyển dụng. Việc sát hạch được thực hiện theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 7 Nghị định này.
2. Vòng 2 được thực hiện theo quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định này.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.