Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 41/2024/QH15

Điều 83. Hồ sơ, trình tự khám giám định mức suy giảm khả năng lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội

Căn cứ: Điều 83, 41/2024/QH15 — Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15

Tóm tắt

Điều 83 quy định hồ sơ, trình tự khám giám định mức suy giảm khả năng lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định. Việc khám giám định phải bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch; Hội đồng giám định y khoa chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả giám định.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Hồ sơ, trình tự khám giám định do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định.
  • ▸Yêu cầu: chính xác, công khai, minh bạch.
  • ▸Hội đồng giám định y khoa chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả giám định.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm cơ quan quy định hồ sơ, trình tự là Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thay vì Bộ Y tế.
  • Cho rằng cơ quan bảo hiểm xã hội chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả giám định.

Giải thích

Điều 83 quy định về khám giám định mức suy giảm khả năng lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội. Hồ sơ và trình tự khám giám định do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định. Quá trình khám giám định phải bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch. Hội đồng giám định y khoa chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả giám định. Thí sinh cần nhớ rõ thẩm quyền quy định thuộc Bộ Y tế và trách nhiệm về kết quả thuộc Hội đồng giám định y khoa.
Nguyên văn Điều 83. Hồ sơ, trình tự khám giám định mức suy giảm khả năng lao động
để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội 1. Hồ sơ, trình tự khám giám định mức suy giảm khả năng lao động để giải quyết chế độ bảo hiểm xã hội do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định. 2. Việc khám giám định mức suy giảm khả năng lao động phải bảo đảm chính xác, công khai, minh bạch. Hội đồng giám định y khoa chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả giám định.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.