Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 41/2024/QH15

Điều 93. Hình thức chi trả lương hưu và chế độ bảo hiểm xã hội

Căn cứ: Điều 93, 41/2024/QH15 — Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15

Tóm tắt

Điều 93 quy định các hình thức chi trả lương hưu và chế độ BHXH. Có ba hình thức: qua tài khoản ngân hàng, trực tiếp từ cơ quan BHXH hoặc tổ chức dịch vụ được ủy quyền, và thông qua người sử dụng lao động.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Hình thức 1: Thông qua tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam.
  • ▸Hình thức 2: Trực tiếp từ cơ quan BHXH hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan BHXH ủy quyền.
  • ▸Hình thức 3: Thông qua người sử dụng lao động.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa tổ chức dịch vụ được ủy quyền và người sử dụng lao động.
  • Cho rằng chỉ có một hình thức chi trả duy nhất là qua tài khoản ngân hàng.
  • Bỏ sót hình thức chi trả trực tiếp từ cơ quan BHXH.

Giải thích

Điều 93 Luật Bảo hiểm xã hội số 41/2024/QH15 quy định ba hình thức chi trả lương hưu và chế độ BHXH. Thứ nhất, chi trả thông qua tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng thương mại hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam. Thứ hai, chi trả trực tiếp từ cơ quan BHXH hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan BHXH ủy quyền. Thứ ba, chi trả thông qua người sử dụng lao động. Các hình thức này nhằm đảm bảo người thụ hưởng có thể nhận được lương hưu và chế độ BHXH một cách thuận lợi nhất.
Nguyên văn Điều 93. Hình thức chi trả lương hưu và chế độ bảo hiểm xã hội
1. Thông qua tài khoản của người thụ hưởng mở tại ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động tại Việt Nam. 2. Trực tiếp từ cơ quan bảo hiểm xã hội hoặc tổ chức dịch vụ được cơ quan bảo hiểm xã hội ủy quyền. 3. Thông qua người sử dụng lao động.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.