Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 22/2021/TT-BGDĐT

Điều 11. Đánh giá học sinh khuyết tật

Căn cứ: Điều 11, 22/2021/TT-BGDĐT — Thông tư 22/2021/TT-BGDĐT quy định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông

Tóm tắt

Điều 11 quy định nguyên tắc đánh giá học sinh khuyết tật là động viên, khuyến khích sự nỗ lực và tiến bộ. Đối với học sinh khuyết tật học hòa nhập, đánh giá như học sinh bình thường nhưng giảm nhẹ yêu cầu đối với môn có khả năng đáp ứng; môn không đáp ứng thì đánh giá theo Kế hoạch giáo dục cá nhân và không kiểm tra, đánh giá nội dung/môn được miễn. Đối với học sinh khuyết tật học chuyên biệt, đánh giá theo quy định giáo dục chuyên biệt đối với môn đáp ứng được; môn không đáp ứng thì đánh giá theo Kế hoạch giáo dục cá nhân.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Nguyên tắc: động viên, khuyến khích sự nỗ lực và tiến bộ của người học.
  • ▸Học sinh khuyết tật học hòa nhập: môn đáp ứng được thì đánh giá như học sinh bình thường nhưng giảm nhẹ yêu cầu.
  • ▸Học sinh khuyết tật học hòa nhập: môn không đáp ứng được thì đánh giá theo Kế hoạch giáo dục cá nhân; không kiểm tra, đánh giá nội dung/môn được miễn.
  • ▸Học sinh khuyết tật học chuyên biệt: môn đáp ứng được thì đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt.
  • ▸Học sinh khuyết tật học chuyên biệt: môn không đáp ứng được thì đánh giá theo Kế hoạch giáo dục cá nhân.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa học hòa nhập và học chuyên biệt về căn cứ đánh giá.
  • Cho rằng học sinh khuyết tật học hòa nhập không được đánh giá như học sinh bình thường ở bất kỳ môn nào.
  • Bỏ sót việc không kiểm tra, đánh giá nội dung/môn được miễn đối với học sinh khuyết tật học hòa nhập.

Giải thích

Điều 11 đặt nguyên tắc đánh giá học sinh khuyết tật là động viên, khuyến khích sự nỗ lực và tiến bộ. Với học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục hòa nhập, nếu môn học nào học sinh có khả năng đáp ứng theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông thì đánh giá như học sinh bình thường nhưng giảm nhẹ yêu cầu về kết quả rèn luyện và học tập. Nếu môn học nào học sinh không có khả năng đáp ứng theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông thì đánh giá kết quả thực hiện rèn luyện và học tập theo Kế hoạch giáo dục cá nhân; không kiểm tra, đánh giá những nội dung môn học hoặc môn học được miễn. Với học sinh khuyết tật học theo phương thức giáo dục chuyên biệt, môn học mà học sinh đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục chuyên biệt thì đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt; môn học mà học sinh không có khả năng đáp ứng được yêu cầu giáo dục chuyên biệt thì đánh giá theo Kế hoạch giáo dục cá nhân.
Nguyên văn Điều 11. Đánh giá học sinh khuyết tật
1. Việc đánh giá kết quả rèn luyện và học tập của học sinh khuyết tật được thực hiện theo nguyên tắc động viên, khuyến khích sự nỗ lực và ti ến bộ của người học. 2. Đối với học sinh khuyết tật học tập theo phương thức giáo dục hòa nhập, kết quả rèn luyện và học tập môn học mà học sinh khuyết tật có khả năng đáp ứng được theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông thì được đánh giá như đối với học sinh bình thường nhưng có giảm nhẹ yêu cầu về kết quả rèn luyện và học tập. Những môn học mà học sinh khuyết tật không có khả năng đáp ứng theo yêu cầu của Chương trình giáo dục phổ thông thì được đánh giá kết quả thực hiện rèn luyện và học tập theo Kế hoạch giáo dục cá nhân; không kiểm tra, đánh giá những nội dung môn học hoặc môn học được miễn. 3. Đối với học sinh khuyết tật học tập theo phương thứ c giáo dục chuyên biệt, kết quả rèn luyện và học tập môn học mà học sinh khuyết tật đáp ứng được yêu cầu của chương trình giáo dục chuyên biệt được đánh giá theo quy định dành cho giáo dục chuyên biệt. Những môn học mà học sinh khuyết tật không có khả năng đáp ứng được yêu cầu giáo dục chuyên biệt thì đánh giá kết quả thực hiện rèn luyện và học tập theo Kế hoạch giáo dục cá nhân.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.