Nguyên văn Điều 11. Lập dự toán, phân bổ, giao dự toán, hạch toán và quyết toán
Việc lập dự toán, phân bổ, giao dự toán, hạch toán và quyết toán thực
hiện theo quy định hiện hành của pháp luật về ngân sách nhà nước, pháp luật
về kế toán và các quy định sau đây:
1. Về lập dự toán:
Hàng năm, căn cứ vào các văn bản hướng dẫn lập dự toán của Bộ Tài
chính và hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, căn cứ vào tình hình thực
hiện nhiệm vụ của năm trước và dự kiến năm kế hoạch, cơ quan thực hiện chế
độ tự chủ lập dự toán ngân sách theo đúng quy định, trong đó chi tiết theo hai
phần: Dự toán chi quản lý hành chính giao thực hiện chế độ tự chủ và dự toán
chi quản lý hành chính không giao thực hiện chế độ tự chủ; có thuyết minh
chi tiết theo nội dung công việc, gửi đơn vị dự toán cấp trên trực tiếp. Đơn vị
dự toán cấp I tổng hợp và chịu trách nhiệm về hồ sơ, số liệu báo cáo cơ quan
tài chính cùng cấp.
Biểu mẫu lập dự toán thực hiện theo biểu mẫu quy định tại Thông tư của
Bộ Tài chính hướng dẫn Luật Ngân sách nhà nước.
2. Về phân bổ và giao dự toán chi ngân sách nhà nước:
a) Căn cứ dự toán chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, đơn vị dự
toán cấp I phân bổ và giao dự toán chi ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân
sách thuộc phạm vi quản lý, chi tiết theo hai phần: Dự toán chi quản lý hành
chính giao thực hiện chế độ tự chủ và dự toán chi quản lý hành chính không
giao thực hiện chế độ tự chủ; có thuyết minh chi tiết theo nội dung công
việc, gửi cơ quan tài chính cùng cấp và Kho bạc Nhà nước nơi giao dịch để
thực hiện.
Đối với phần kinh phí giao thực hiện chế độ tự chủ phân bổ rõ kinh phí
thực hiện từng hoạt động nhiệm vụ đặc thù; kinh phí mua sắm, sửa chữa
thường xuyên theo dự toán, số lượng, khối lượng được duyệt.
Đối với phần kinh phí không giao thực hiện chế độ tự chủ phân bổ rõ
kinh phí thực hiện các nhiệm vụ mua sắm, sửa chữa; chi hoạt động nhiệm vụ
đặc thù và các nhiệm vụ không thực hiện chế độ tự chủ khác theo quy định
tại Điều 10 Nghị định này.
Biểu mẫu phân bổ dự toán thực hiện theo biểu mẫu quy định tại Thông
tư của Bộ Tài chính hướng dẫn Luật Ngân sách nhà nước;
b) Cơ quan tài chính cùng cấp thực hiện kiểm tra dự toán đơn vị dự toán
cấp I đã giao cho các đơn vị sử dụng ngân sách theo quy định của Luật Ngân
sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn thi hành;
c) Khi rút dự toán từ Kho bạc Nhà nước, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ
phải ghi rõ nội dung chi thuộc nguồn kinh phí được giao thực hiện chế độ tự
chủ, nguồn kinh phí không giao thực hiện chế độ tự chủ.
3. Về tạm chi thu nhập tăng thêm, chi phúc lợi và chi khen thưởng:
a) Trong năm, cơ quan thực hiện chế độ tự chủ được tạm chi từ dự toán
đã giao thực hiện chế độ tự chủ để chi thu nhập tăng thêm, chi cho các hoạt
động phúc lợi, khen thưởng;
b) Mức tạm chi:
Để động viên cán bộ, công chức và người lao động phấn đấu hoàn thành
nhiệm vụ, thực hành tiết kiệm chống lãng phí; căn cứ tình hình thực hiện của
quý trước, nếu xét thấy cơ quan có khả năng tiết kiệm được kinh phí; Thủ
trưởng cơ quan căn cứ vào số kinh phí có thể tiết kiệm được để quyết định
tạm chi trước thu nhập tăng thêm cho cán bộ, công chức và người lao động
trong cơ quan theo quý. Mức tạm chi hàng quý tối đa không quá 60% quỹ tiền
lương thực tế của cán bộ, công chức, người lao động (không bao gồm các
khoản phụ cấp theo lương; các khoản đóng góp theo lương nếu có) do nhà
nước quy định trong một quý của cơ quan;
Trong năm, Thủ trưởng cơ quan căn cứ vào số kinh phí có khả năng tiết
kiệm được để quyết định tạm chi trước đối với các hoạt động phúc lợi, chi
khen thưởng định kỳ hoặc đột xuất cho tập thể, cá nhân và hạch toán theo dõi
khoản tạm chi;
c) Kết thúc năm, trước ngày 31 tháng 01 năm sau, cơ quan thực hiện chế
độ tự chủ xác định số kinh phí tiết kiệm chi quản lý hành chính của năm trước
theo quy định tại khoản 3 Điều 9 Nghị định này để thanh toán thu nhập tăng
thêm theo chế độ quy định. Trên cơ sở đề nghị của cơ quan, Kho bạc Nhà
nước làm thủ tục thanh toán thu nhập tăng thêm cho cơ quan thực hiện chế độ
tự chủ (bao gồm cả thanh toán số đã tạm chi và thanh toán trực tiếp); quyết
toán số tạm chi đối với chi các hoạt động phúc lợi, khen thưởng;
d) Khi quyết toán của cơ quan được cấp có thẩm quyền phê duyệt,
trường hợp số kinh phí thực tiết kiệm cao hơn, cơ quan được tiếp tục chi trả
thu nhập tăng thêm hoặc chi các hoạt động phúc lợi, chi khen thưởng theo chế
độ quy định. Trường hợp số kinh phí tiết kiệm thấp hơn số cơ quan thực hiện
chế độ tự chủ xác định, căn cứ vào quyết định của cơ quan có thẩm quyền và
đề nghị của cơ quan thực hiện chế độ tự chủ, Kho bạc Nhà nước làm thủ tục
thu hồi bằng cách trừ vào kinh phí tiết kiệm năm tiếp theo của cơ quan.
4. Trong năm phát sinh yêu cầu phải điều chỉnh dự toán kinh phí quản lý
hành chính giao tự chủ theo quy định tại Điều 8 Nghị định này và các nhiệm
vụ đột xuất khác nhưng chưa được tổng hợp trình cấp có thẩm quyền tại thời
điểm xây dựng dự toán của năm kế hoạch, đơn vị dự toán cấp I chủ động sắp
xếp trong dự toán kinh phí được giao để điều chỉnh, phân bổ cho đơn vị sử
dụng ngân sách theo quy định.
Trường hợp không thể sắp xếp, bố trí hoặc điều chỉnh trong dự toán kinh
phí đã được giao, đơn vị dự toán cấp I tổng hợp dự toán kinh phí để gửi cơ
quan tài chính cùng cấp tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, bổ
sung kinh phí để thực hiện theo quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước
và pháp luật có liên quan.
5. Về hạch toán kế toán, quyết toán:
Việc hạch toán kế toán, quyết toán thực hiện theo quy định của pháp luật
về kế toán và hạch toán theo mục lục ngân sách hiện hành.