Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 20/2023/QH15

Điều 12. Chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu

Căn cứ: Điều 12, 20/2023/QH15 — Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15

Tóm tắt

Điều 12 quy định điều kiện chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu và ngược lại; mỗi chiều chuyển đổi phải bảo đảm các yêu cầu về toàn vẹn, khả năng truy cập, ký hiệu riêng, trường hợp đặc biệt phải có chữ ký số hoặc chữ ký, con dấu và hệ thống thông tin phải có tính năng chuyển đổi tương ứng. Giá trị pháp lý của văn bản được chuyển đổi theo pháp luật có liên quan.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Chuyển từ giấy sang thông điệp dữ liệu: bảo đảm toàn vẹn; truy cập, sử dụng được để tham chiếu; có ký hiệu riêng xác nhận đã chuyển đổi và thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi.
  • ▸Nếu văn bản giấy là giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận, văn bản chấp thuận khác do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành thì còn phải có chữ ký số của cơ quan, tổ chức thực hiện chuyển đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • ▸Hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi từ giấy sang thông điệp dữ liệu phải có tính năng chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu.
  • ▸Chuyển từ thông điệp dữ liệu sang giấy: bảo đảm toàn vẹn; có thông tin để xác định hệ thống thông tin và chủ quản hệ thống tạo lập, gửi, nhận, lưu trữ thông điệp dữ liệu gốc để tra cứu; có ký hiệu riêng xác nhận đã chuyển đổi và thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi.
  • ▸Nếu thông điệp dữ liệu là chứng thư điện tử thì còn phải có chữ ký, con dấu (nếu có) của cơ quan, tổ chức thực hiện chuyển đổi theo quy định của pháp luật.
  • ▸Hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy phải có tính năng chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy.
  • ▸Giá trị pháp lý của văn bản được chuyển đổi theo quy định của pháp luật có liên quan.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm yêu cầu chuyển từ giấy sang thông điệp dữ liệu với yêu cầu chuyển từ thông điệp dữ liệu sang giấy (ví dụ: chữ ký số chỉ bắt buộc với một số loại văn bản giấy, còn chữ ký, con dấu chỉ bắt buộc khi thông điệp dữ liệu là chứng thư điện tử).
  • Bỏ sót yêu cầu về tính năng chuyển đổi của hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi.
  • Lẫn giữa 'ký hiệu riêng xác nhận đã chuyển đổi' (bắt buộc với cả hai chiều) và 'chữ ký số' hoặc 'chữ ký, con dấu' (chỉ bắt buộc trong trường hợp đặc biệt).

Giải thích

Điều 12 đặt ra hai nhóm điều kiện tương ứng với hai chiều chuyển đổi. Khi chuyển từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu, thông tin phải được bảo đảm toàn vẹn như văn bản giấy, có thể truy cập và sử dụng để tham chiếu, có ký hiệu riêng xác nhận đã chuyển đổi kèm thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi. Nếu văn bản giấy là giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận, văn bản chấp thuận khác do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành thì còn phải có chữ ký số của cơ quan, tổ chức thực hiện chuyển đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác; hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi phải có tính năng chuyển từ giấy sang thông điệp dữ liệu. Chiều ngược lại, khi chuyển từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy, thông tin phải toàn vẹn, có thông tin để xác định hệ thống thông tin và chủ quản hệ thống tạo lập, gửi, nhận, lưu trữ thông điệp dữ liệu gốc để tra cứu, có ký hiệu riêng xác nhận đã chuyển đổi và thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi. Nếu thông điệp dữ liệu là chứng thư điện tử thì còn phải có chữ ký, con dấu (nếu có) của cơ quan, tổ chức thực hiện chuyển đổi; hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi phải có tính năng chuyển từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy. Giá trị pháp lý của văn bản chuyển đổi theo pháp luật có liên quan.
Nguyên văn Điều 12. Chuyển đổi hình thức giữa văn bản giấy và thông điệp dữ liệu
1. Thông điệp dữ liệu được chuyển đổi từ văn bản giấy phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây: a) Thông tin trong thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn như văn bản giấy; b) Thông tin trong thông điệp dữ liệu có th ể truy cập và sử dụng được để tham chiếu; c) Có ký hiệu riêng xác nhận đã được chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu và thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi; d) Trường hợp văn bản giấy là giấy phép, giấy chứng nhận, chứng chỉ, văn bản xác nhận, văn bản chấp thuận khác do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phát hành thì việc chuyển đổi phải đáp ứng yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản này và phải có chữ ký số của cơ quan, tổ chức thực hiện chuyển đổi, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi phải có tính năng chuyển đổi từ văn bản giấy sang thông điệp dữ liệu. 2. Văn bản gi ấy được chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu phải đáp ứng đủ các yêu cầu sau đây: a) Thông tin trong văn bản giấy được bảo đảm toàn vẹn như thông điệp dữ liệu; b) Có thông tin để xác định được hệ thống thông tin và chủ quản hệ thống thông tin tạo lập, gửi, nhận, lưu trữ thông điệp dữ liệu gốc để tra cứ u; c) Có ký hiệu riêng xác nhận đã được chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy và thông tin của cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện chuyển đổi; d) Trường hợp thông điệp dữ liệu là chứng thư điện tử thì việc chuyển đổi phải đáp ứng yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản này và phải có chữ ký, con dấu (nếu có) của cơ quan, tổ chức thực hiện chuyển đổi theo quy định của pháp luật. Hệ thống thông tin phục vụ chuyển đổi phải có tính năng chuyển đổi từ thông điệp dữ liệu sang văn bản giấy. 3. Giá trị pháp lý của văn bản được chuyển đổi theo quy định của pháp luật có liên quan. 4. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.