Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 23/2026/TT-BGDĐT

Điều 12. Điều khoản áp dụng

Căn cứ: Điều 12, 23/2026/TT-BGDĐT — Thông tư 23/2026/TT-BGDĐT Quy định mã số, chuẩn nghề nghiệp, bổ nhiệm chức danh và xếp lương đối với giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên

Tóm tắt

Điều 12 quy định việc xác định đạt tiêu chuẩn trình độ đào tạo đối với giáo viên dạy các môn tích hợp (Lịch sử và Địa lý, Khoa học tự nhiên, Công nghệ, Giáo dục kinh tế và pháp luật) và các trường hợp chuyển tiếp về bằng cấp, chứng chỉ, nhiệm vụ giảng dạy. Điều này cũng quy định việc phân công nhiệm vụ theo hạng và các trường hợp đặc biệt được bổ nhiệm hạng III.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Giáo viên dạy môn Lịch sử và Địa lý, Khoa học tự nhiên, Công nghệ, Giáo dục kinh tế và pháp luật được xác định đạt chuẩn nếu có bằng cử nhân phù hợp hoặc có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp kèm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm THCS/THPT.
  • ▸Nhiệm vụ theo từng hạng tại Điều 4 là công việc sau khi bổ nhiệm và trong suốt thời gian giữ hạng nếu được phân công; người đứng đầu có thể phân công nhiệm vụ hạng cao hơn nếu giáo viên có khả năng.
  • ▸Nếu cơ sở giáo dục không được giao hoặc không đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ, người đứng đầu quyết định quy đổi sang nhiệm vụ khác có liên quan để đánh giá.
  • ▸Bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp được xác định là bằng cử nhân sư phạm hoặc bằng cử nhân chuyên ngành không thuộc ngành đào tạo giáo viên nhưng chương trình có môn học/học phần đáp ứng yêu cầu giảng dạy môn học cụ thể; Giám đốc Sở GD&ĐT quyết định hoặc phối hợp xác định tính phù hợp.
  • ▸Trước ngày 30/5/2023, giáo viên dạy môn khác chuyên ngành được đào tạo nhưng được đánh giá đạt năng lực chuyên môn, nghiệp vụ thì được xác định đạt tiêu chuẩn đào tạo và bổ nhiệm, xếp lương; đến 31/12/2030 phải hoàn thành tiêu chuẩn trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu môn học giảng dạy.
  • ▸Giáo viên được cử giảng dạy chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác ngoài chương trình GDTX cấp THCS/THPT phải đạt trình độ đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu giảng dạy chương trình đó.
  • ▸Từ 03/11/2015 đến 31/12/2025, giáo viên GDTX công lập được bổ nhiệm hạng cao hơn sau tập sự hoặc sau khi đạt trình độ cao hơn nhưng chưa trúng tuyển thăng hạng thì được bổ nhiệm vào hạng III - Mã số V.07.05.18.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa 'bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên' và 'bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp kèm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm'.
  • Cho rằng giáo viên chỉ được phân công nhiệm vụ đúng hạng đã bổ nhiệm; thực tế có thể được phân công nhiệm vụ hạng cao hơn nếu có khả năng.
  • Nhầm mốc thời gian 30/5/2023 và 31/12/2030 trong quy định chuyển tiếp.

Giải thích

Điều 12 hướng dẫn cách xác định đạt tiêu chuẩn trình độ đào tạo cho giáo viên GDTX dạy các môn tích hợp và các môn đặc thù. Với môn Lịch sử và Địa lý, Khoa học tự nhiên, Công nghệ, Giáo dục kinh tế và pháp luật, giáo viên có thể có bằng cử nhân thuộc ngành đào tạo giáo viên phù hợp hoặc bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp kèm chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm THCS/THPT. Điều này cũng làm rõ nhiệm vụ theo hạng: người đứng đầu cơ sở giáo dục có thể phân công giáo viên thực hiện nhiệm vụ hạng cao hơn nếu có khả năng; nếu không đủ điều kiện thực hiện nhiệm vụ, người đứng đầu quyết định quy đổi sang nhiệm vụ khác có liên quan để đánh giá. Ngoài ra, Điều 12 còn quy định việc công nhận bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp, các trường hợp chuyển tiếp về chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm và việc bổ nhiệm hạng III cho một số trường hợp trong giai đoạn 2015-2025.
Nguyên văn Điều 12. Điều khoản áp dụng
1. Giáo viên được phân công giảng dạy môn Lịch sử và Địa lý trong Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên về Lịch sử hoặc Địa lý; hoặc có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành, chuyên ngành phù hợp với môn Lịch sử, Địa lý và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông thì được xác định là đạt tiêu chuẩn về trình độ đào tạo của giáo viên giáo dục thường xuyên. 2. Giáo viên được phân công giảng dạy môn Khoa học tự nhiên trong Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên về Khoa học tự nhiên hoặc Vật lý hoặc Hóa học hoặc Sinh học; hoặc có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành, chuyên ngành phù hợp với môn Khoa học tự nhiên, Vật lý, Hóa học, Sinh học và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông thì được xác định là đạt tiêu chuẩn về trình độ đào tạo của giáo viên giáo dục thường xuyên. 3. Giáo viên được phân công giảng dạy môn Công nghệ trong Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên về Công nghệ hoặc Kỹ thuật công nghiệp hoặc Kỹ thuật nông nghiệp; hoặc có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành, chuyên ngành phù hợp với môn Công nghệ, Kỹ thuật công nghiệp, Kỹ thuật nông nghiệp và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông thì được xác định là đạt tiêu chuẩn về trình độ đào tạo của giáo viên giáo dục thường xuyên. 4. Giáo viên được phân công giảng dạy môn Giáo dục kinh tế và pháp luật trong Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên về Giáo dục Công dân hoặc Giáo dục Chính trị; hoặc có bằng cử nhân trở lên chuyên ngành phù hợp với môn Giáo dục Công dân, Giáo dục Chính trị và có chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở hoặc trung học phổ thông thì được xác định là đạt tiêu chuẩn về trình độ đào tạo của giáo viên giáo dục thường xuyên. 5. Nhiệm vụ theo từng hạng của chức danh giáo viên giáo dục thường xuyên quy định tại Điều 4 Thông tư này là những công việc giáo viên thực hiện sau khi được bổ nhiệm chức danh ở hạng tương ứng và trong suốt thời gian giữ hạng của chức danh nếu được người đứng đầu cơ sở giáo dục phân công. Người đứng đầu cơ sở giáo dục có thể phân công giáo viên thực hiện nhiệm vụ của hạng cao hơn nếu giáo viên có khả năng thực hiện. Đối với những nhiệm vụ mà cơ sở giáo dục thường xuyên không được giao hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì người đứng đầu cơ sở giáo dục quyết định việc quy đổi sang các nhiệm vụ khác có liên quan để làm căn cứ đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của giáo viên. 6. Trường hợp giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên đã có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có bằng trung cấp trở lên các ngành đào tạo giáo viên hoặc có chứng chỉ hoặc chứng nhận bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ sư phạm, lý luận dạy học do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cấp theo quy định trước ngày 22 tháng 5 năm 2021 thì được xác định là có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dành cho giáo viên trung học phổ thông theo chương trình do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Trường hợp giáo viên cơ sở giáo dục thường xuyên đã có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dành cho giáo viên trung học cơ sở do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cấp theo quy định trước ngày Thông tư này có hiệu lực thi hành thì được xác định là đủ điều kiện về chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm dành cho giáo viên trung học phổ thông quy định tại Điều 6 Thông tư này. 7. Bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp quy định tại tiêu chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên giáo dục thường xuyên được xác định là bằng cử nhân chuyên ngành đào tạo giáo viên hoặc bằng cử nhân chuyên ngành không thuộc ngành đào tạo giáo viên mà trong chương trình đào tạo của chuyên ngành đó có các môn học hoặc học phần (thuộc khối kiến thức chuyên ngành) đảm bảo yêu cầu giảng dạy môn học cụ thể trong Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông. Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo quyết định hoặc phối hợp với cơ sở đào tạo (nơi cấp bằng) để xác định tính phù hợp của bằng cử nhân với môn học cụ thể trong chương trình giáo dục thường xuyên. 8. Trước ngày 30 tháng 5 năm 2023, trường hợp giáo viên đã có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên, hoặc có bằng cử nhân và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm được phân công giảng dạy môn học khác với chuyên ngành được đào tạo và được người đứng đầu cơ sở giáo dục đánh giá đạt tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để giảng dạy môn học được phân công thì được xác định đạt tiêu chuẩn về đào tạo và được bổ nhiệm chức danh, xếp lương của vị trí việc làm giáo viên giáo dục thường xuyên tương ứng theo quy định tại Thông tư này. Đến ngày 31 tháng 12 năm 2030, các trường hợp quy định tại khoản này phải hoàn thành tiêu chuẩn trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu môn học giảng dạy. 9. Trường hợp giáo viên giáo dục thường xuyên được cử tham gia giảng dạy các chương trình đào tạo, bồi dưỡng khác ngoài Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở, Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông thì phải đạt trình độ đào tạo, bồi dưỡng theo yêu cầu giảng dạy chương trình đào tạo, bồi dưỡng đó. 10. Kể từ ngày 03 tháng 11 năm 2015 đến ngày 31 tháng 12 năm 2025, trường hợp giáo viên trong các cơ sở giáo dục thường xuyên công lập được bổ nhiệm chức danh ở hạng cao hơn sau khi hết thời gian tập sự hoặc sau khi đạt trình độ đào tạo cao hơn trình độ quy định nhưng chưa trúng tuyển trong kỳ thi hoặc xét thăng hạng do cấp có thẩm quyền tổ chức thì được bổ nhiệm vào hạng III của chức danh giáo viên giáo dục thường xuyên - Mã số V.07.05.18 (bao gồm cả trường hợp tuyển dụng trước ngày 03 tháng 11 năm 2015 và hoàn thành thời gian tập sự theo quy định sau ngày 03 tháng 11 năm 2015). CHƯƠNG V TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.