Điều 12. Kỳ kế toán
Căn cứ: Điều 12, 88/2015/QH13 — Luật 88/2015/QH13 Luật Kế toán
Tóm tắt
Điều 12 quy định các loại kỳ kế toán gồm năm, quý, tháng; cách xác định kỳ kế toán đầu tiên của đơn vị mới thành lập và kỳ kế toán cuối cùng khi đơn vị chia, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản; đồng thời cho phép cộng kỳ kế toán năm đầu tiên hoặc cuối cùng ngắn hơn 90 ngày với kỳ kế toán năm liền kề để thành một kỳ kế toán năm, nhưng phải ngắn hơn 15 tháng.
Ý chính cần nhớ
- ▸Kỳ kế toán gồm kỳ kế toán năm, kỳ kế toán quý, kỳ kế toán tháng.
- ▸Kỳ kế toán năm thông thường là 12 tháng, từ 01/01 đến 31/12 năm dương lịch.
- ▸Đơn vị có đặc thù được chọn kỳ kế toán năm 12 tháng tròn theo năm dương lịch, bắt đầu từ đầu ngày 01 tháng đầu quý này đến hết ngày cuối cùng của tháng cuối quý trước năm sau và phải thông báo cho cơ quan tài chính, cơ quan thuế.
- ▸Kỳ kế toán quý là 03 tháng; kỳ kế toán tháng là 01 tháng.
- ▸Kỳ kế toán đầu tiên của doanh nghiệp mới thành lập tính từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp; của đơn vị kế toán khác tính từ ngày quyết định thành lập có hiệu lực.
- ▸Kỳ kế toán cuối cùng tính từ đầu kỳ kế toán năm/quý/tháng đến hết ngày trước ngày quyết định chia, hợp nhất, sáp nhập, chuyển đổi, giải thể, chấm dứt hoạt động, phá sản có hiệu lực.
- ▸Kỳ kế toán năm đầu tiên hoặc cuối cùng ngắn hơn 90 ngày được cộng với kỳ kế toán năm liền kề để thành một kỳ kế toán năm, nhưng phải ngắn hơn 15 tháng.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm kỳ kế toán năm đặc thù với năm dương lịch thông thường; kỳ đặc thù vẫn là 12 tháng tròn nhưng không nhất thiết từ 01/01 đến 31/12.
- Nhầm thời điểm bắt đầu kỳ kế toán đầu tiên của doanh nghiệp (ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) với đơn vị kế toán khác (ngày quyết định thành lập có hiệu lực).
- Nhầm điều kiện cộng kỳ kế toán năm: chỉ khi kỳ đầu tiên hoặc cuối cùng ngắn hơn 90 ngày và sau khi cộng phải ngắn hơn 15 tháng.
Giải thích
Nguyên văn Điều 12. Kỳ kế toán
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.