Điều 12. Trình thẩm định, thẩm định nhiệm vụ quy hoạch đô thị và nông thôn
Căn cứ: Điều 12, 178/2025/NĐ-CP — Nghị định 178/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Quy hoạch đô thị và nông thôn
Tóm tắt
Điều 12 quy định trình tự, trách nhiệm trong việc trình và thẩm định nhiệm vụ quy hoạch đô thị và nông thôn. Cơ quan tổ chức lập quy hoạch trình hồ sơ đến cơ quan thẩm định; cơ quan thẩm định kiểm tra hồ sơ, thành lập hoặc tham mưu thành lập Hội đồng thẩm định, lấy ý kiến thành viên trước khi họp. Cơ quan thẩm định tổng hợp ý kiến và gửi cơ quan tổ chức lập quy hoạch để tiếp thu, giải trình, hoàn thiện hồ sơ; sau đó cơ quan tổ chức lập quy hoạch gửi lại để cơ quan thẩm định kiểm tra và hoàn thiện báo cáo thẩm định trước khi trình cấp phê duyệt. Việc thẩm định không thay thế, không làm giảm trách nhiệm của cơ quan tổ chức lập và tổ chức tư vấn.
Ý chính cần nhớ
- ▸Cơ quan tổ chức lập quy hoạch trình hồ sơ nhiệm vụ quy hoạch đến cơ quan thẩm định quy hoạch.
- ▸Cơ quan thẩm định kiểm tra thành phần, nội dung hồ sơ; thành lập hoặc tham mưu cấp có thẩm quyền thành lập Hội đồng thẩm định; tổ chức lấy ý kiến thành viên Hội đồng trước khi họp.
- ▸Cơ quan thẩm định tổng hợp ý kiến thẩm định của thành viên Hội đồng và cơ quan quản lý nhà nước có liên quan, gửi cơ quan tổ chức lập quy hoạch.
- ▸Cơ quan tổ chức lập quy hoạch phải tiếp thu, giải trình đầy đủ ý kiến thẩm định, hoàn thiện hồ sơ và gửi lại cơ quan thẩm định.
- ▸Cơ quan thẩm định kiểm tra và hoàn thiện, ban hành báo cáo thẩm định trước khi trình cấp phê duyệt quy hoạch.
- ▸Thẩm định không thay thế, không làm giảm trách nhiệm của cơ quan tổ chức lập nhiệm vụ và tổ chức tư vấn lập nhiệm vụ.
Lưu ý dễ nhầm
- Lẫn lộn thứ tự: cơ quan thẩm định lấy ý kiến thành viên Hội đồng trước khi họp hội đồng thẩm định.
- Cho rằng thẩm định làm giảm trách nhiệm của cơ quan tổ chức lập hoặc tổ chức tư vấn.
Giải thích
Nguyên văn Điều 12. Trình thẩm định, thẩm định nhiệm vụ quy hoạch đô thị và nông thôn
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.