Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 217/2026/NĐ-CP

Điều 13. Quản lý công tác khảo sát xây dựng

Căn cứ: Điều 13, 217/2026/NĐ-CP — Nghị định 217/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý hoạt động xây dựng

Tóm tắt

Điều 13 quy định trách nhiệm của nhà thầu khảo sát xây dựng trong việc bố trí nhân lực, chủ nhiệm khảo sát và kiểm soát chất lượng theo phương án kỹ thuật. Đồng thời, chủ đầu tư có thể tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân giám sát khảo sát với các nội dung kiểm tra cụ thể. Chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án có quyền đình chỉ công việc khảo sát khi nhà thầu vi phạm.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Nhà thầu khảo sát phải bố trí đủ người có kinh nghiệm, chuyên môn phù hợp; cử người đủ điều kiện năng lực làm chủ nhiệm khảo sát.
  • ▸Nhà thầu khảo sát tổ chức thực hiện biện pháp kiểm soát chất lượng theo phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng.
  • ▸Chủ đầu tư được tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp để giám sát khảo sát xây dựng.
  • ▸Nội dung giám sát khảo sát gồm: kiểm tra điều kiện thực hiện của nhà thầu (nhân lực, thiết bị, phòng thí nghiệm) và theo dõi, kiểm tra việc thực hiện khảo sát (vị trí, khối lượng, quy trình, lưu giữ số liệu, thí nghiệm, an toàn lao động, môi trường).
  • ▸Chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án có quyền đình chỉ công việc khảo sát khi phát hiện nhà thầu không thực hiện đúng phương án khảo sát đã được phê duyệt hoặc quy định của hợp đồng.

Lưu ý dễ nhầm

  • Lầm tưởng chủ đầu tư bắt buộc phải thuê giám sát khảo sát; thực tế chủ đầu tư được tự thực hiện hoặc thuê.
  • Cho rằng việc đình chỉ khảo sát chỉ do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện; thực tế chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án cũng có quyền này.

Giải thích

Điều 13 quy định hai nhóm trách nhiệm chính trong quản lý khảo sát xây dựng. Thứ nhất, nhà thầu khảo sát phải bố trí đủ người có kinh nghiệm, chuyên môn phù hợp; cử người đủ điều kiện năng lực làm chủ nhiệm khảo sát và tổ chức kiểm soát chất lượng theo phương án kỹ thuật khảo sát. Thứ hai, chủ đầu tư được tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp để giám sát khảo sát. Nội dung giám sát bao gồm kiểm tra điều kiện thực hiện của nhà thầu (nhân lực, thiết bị, phòng thí nghiệm) và theo dõi, kiểm tra việc thực hiện khảo sát như vị trí, khối lượng, quy trình, lưu giữ số liệu, thí nghiệm, an toàn lao động và môi trường. Đặc biệt, chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án có quyền đình chỉ công việc khảo sát khi phát hiện nhà thầu không thực hiện đúng phương án khảo sát đã được phê duyệt hoặc các quy định của hợp đồng.
Nguyên văn Điều 13. Quản lý công tác khảo sát xây dựng
1. Nhà thầu khảo sát xây dựng có trách nhiệm bố trí đủ người có kinh nghiệm và chuyên môn phù hợp để thực hiện khảo sát theo quy định của hợp đồng; cử người có đủ điều kiện năng lực để làm chủ nhiệm khảo sát và tổ chức thực hiện biện pháp kiểm soát chất lượng quy định tại phương án kỹ thuật khảo sát xây dựng. 2. Tùy theo quy mô và loại hình khảo sát, chủ đầu tư được tự thực hiện hoặc thuê tổ chức, cá nhân có chuyên môn phù hợp với loại hình khảo sát để giám sát khảo sát xây dựng theo các nội dung sau: a) Kiểm tra điều kiện thực hiện của nhà thầu khảo sát xây dựng bao gồm nhân lực, thiết bị khảo sát tại hiện trường, phòng thí nghiệm (nếu có) được sử dụng so với phương án khảo sát xây dựng được duyệt và quy định của hợp đồng; b) Theo dõi, kiểm tra việc thực hiện khảo sát xây dựng bao gồm: vị trí khảo sát, khối lượng khảo sát, quy trình thực hiện khảo sát, lưu giữ số liệu khảo sát và mẫu thí nghiệm; công tác thí nghiệm trong phòng và thí nghiệm hiện trường; công tác bảo đảm an toàn lao động, an toàn môi trường trong quá trình thực hiện khảo sát. 3. Chủ đầu tư hoặc cơ quan chuẩn bị dự án được quyền đình chỉ công việc khảo sát khi phát hiện nhà thầu không thực hiện đúng phương án khảo sát đã được phê duyệt hoặc các quy định của hợp đồng.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.