Nguyên văn Điều 13. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 102/2024/NĐ-CP
ngày 30 tháng 7 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số
điều của Luật Đất đai (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 151/2025/NĐ-CP, Nghị
định số 226/2025/NĐ-CP)
1. Sửa đổi, bổ sung khoản 1 Điều 5 như sau:
“1. Đất ở là đất làm nhà ở và các mục đích khác phục vụ cho đời sống
trong cùng một thửa đất. Đất ở bao gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị, cụ
thể như sau:
a) Đất ở tại nông thôn là đất ở thuộc phạm vi địa giới đơn vị hành chính
xã và đặc khu mà chính quyền địa phương ở đặc khu thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở xã, trừ đất ở thuộc khu vực
thực hiện dự án xây dựng đô thị mới theo quy hoạch đô thị đã được cấp có thẩm
quyền phê duyệt nhưng vẫn thuộc địa giới đơn vị hành chính xã, đặc khu tương
ứng của chính quyền địa phương ở xã;
b) Đất ở tại đô thị là đất ở thuộc phạm vi địa giới đơn vị hành chính phường
và đặc khu mà chính quyền địa phương ở đặc khu thực hiện các nhiệm vụ,
quyền hạn tương ứng của chính quyền địa phương ở phường, đất ở nằm trong
phạm vi địa giới đơn vị hành chính xã, đặc khu tương ứng của chính quyền địa
phương ở xã thuộc khu vực thực hiện dự án xây dựng đô thị mới theo quy hoạch
đô thị đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.”.
2. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 28 như sau:
a) Bổ sung điểm g1 vào sau điểm g khoản 1 như sau:
“g1) Tiến độ thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư;”.
b) Bổ sung khoản 1a vào sau khoản 1 như sau:
“1a. Cơ quan, người có thẩm quyền phê duyệt, điều chỉnh kế hoạch thu
hồi đất.
Việc phê duyệt, điều chỉnh kế hoạch thu hồi đất được thực hiện khi thực
hiện trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất.”.
c) Bổ sung khoản 3 vào sau khoản 2 như sau:
“3. Trường hợp đang thực hiện hoặc đã hoàn thành một số bước công việc
trong trình tự, thủ tục thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư nhưng chưa
ban hành quyết định thu hồi đất mà thông báo thu hồi đất hết hiệu lực thì ban
hành lại thông báo thu hồi đất và tiếp tục thực hiện các thủ tục tiếp theo trong
trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư, thu hồi đất.
Việc quyết định thu hồi đất theo thông báo thu hồi đất ban hành lại không
phải áp dụng yêu cầu về thời gian quy định tại điểm a khoản 9 Điều 3 của Nghị
quyết số 254/2025/QH15.”.
3. Bổ sung khoản 3a vào sau khoản 3 Điều 31 như sau:
“3a. Việc công khai thông tin vi phạm và công khai việc khắc phục vi
phạm pháp luật đất đai thực hiện như sau:
a) Công khai về thông tin vi phạm và công khai việc khắc phục vi phạm
pháp luật đất đai đối với trường hợp vi phạm quy định tại Điều 81 của Luật Đất
đai và Nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực đất đai;
b) Nội dung công khai, gồm: Người sử dụng đất vi phạm, địa chỉ đất vi phạm,
hành vi vi phạm, diện tích đất vi phạm, văn bản của cơ quan, người có thẩm quyền
đã xử lý hành vi vi phạm. Đối với trường hợp công khai việc khắc phục vi phạm
pháp luật đất đai thì phải có văn bản chứng minh đã khắc phục xong hành vi vi phạm;
c) Trong thời gian không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày có văn bản phát
hiện hành vi vi phạm, văn bản chứng minh đã khắc phục xong hành vi vi phạm
thì cơ quan, người có thẩm quyền xử lý vi phạm có trách nhiệm lập danh sách,
nội dung thông tin các trường hợp vi phạm và khắc phục vi phạm quy định tại
điểm b khoản này gửi về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để công khai.
Trong thời gian không quá 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được danh
sách, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm công khai trên Cổng thông tin
điện tử của Ủy ban nhân dân tỉnh và được kết nối, đồng bộ với Cổng thông tin
điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường; cập nhật trong cơ sở dữ liệu quốc gia
về đất đai.
Trường hợp chưa kết nối, đồng bộ giữa Cổng thông tin điện tử của Ủy ban
nhân dân tỉnh với Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường thì
Ủy ban nhân dân tỉnh gửi danh sách, nội dung thông tin vi phạm và khắc phục
vi phạm để Bộ Nông nghiệp và Môi trường đăng trên Cổng thông tin điện tử
của Bộ Nông nghiệp và Môi trường.”.
4. Bổ sung Điều 44a vào sau Điều 44 như sau:
“Điều 44a. Việc giao đất, cho thuê đất, điều chỉnh quyết định giao đất,
cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
1. Việc điều chỉnh quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục
đích sử dụng đất thực hiện trong các trường hợp sau đây:
a) Khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền có nội dung làm
thay đổi căn cứ quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích
sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều 116 của Luật Đất đai;
b) Trường hợp có sai sót về ranh giới, vị trí, diện tích, mục đích sử dụng
giữa bản đồ quy hoạch, bản đồ địa chính, quyết định giao đất, cho thuê đất, cho
phép chuyển mục đích sử dụng đất và số liệu bàn giao đất trên thực địa.
2. Trường hợp giao đất để thực hiện bồi thường bằng đất hoặc hỗ trợ tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 4 Điều 119 và điểm l
khoản 3 Điều 124 của Luật Đất đai thì thực hiện theo phương án bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
Việc giao đất, cho thuê đất đối với trường hợp quy định tại điểm m khoản 3
Điều 124 của Luật Đất đai cho người sử dụng đất bị thu hồi đất sản xuất, kinh
doanh theo quy định tại Điều 78 và Điều 79 của Luật Đất đai phải di dời cơ sở
sản xuất, kinh doanh thì được áp dụng đối với tất cả các loại đất mà tại thời
điểm thu hồi đất còn thời hạn sử dụng đất và người sử dụng đất có nhu cầu sử
dụng đất tại vị trí khác để tiếp tục sản xuất, kinh doanh.
3. Việc xác định các trường hợp được miễn, giảm; trình tự, thủ tục giảm tiền
sử dụng đất, tiền thuê đất để thực hiện giao đất, cho thuê đất thực hiện theo quy
định của pháp luật về tiền sử dụng đất, tiền thuê đất.”.
5. Bổ sung khoản 4a vào sau khoản 4 Điều 54 như sau:
“4a. Trường hợp đất đưa ra đấu giá quyền sử dụng đất 02 lần không thành
mà tiếp tục tổ chức đấu giá lại thì được xác định lại giá khởi điểm theo quy định
tại Nghị quyết số 254/2025/QH15 và các nghị định quy định chi tiết thi hành
Nghị quyết số 254/2025/QH15.”.
6. Sửa đổi, bổ sung một số điểm của Điều 55 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm c khoản 1 như sau:
“c) Phải nộp tiền đặt trước theo quy định của pháp luật về đấu giá tài sản;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm d khoản 3 như sau:
“d) Đối tượng và điều kiện được tham gia đấu giá. Tiêu chí đánh giá năng
lực, kinh nghiệm trong việc phát triển dự án đối với trường hợp quy định tại
khoản 3 Điều 125 của Luật Đất đai phải phù hợp với dự án đầu tư và tình hình
thực tế của địa phương;”;
c) Sửa đổi, bổ sung khoản 4 như sau:
“4. Cơ quan có chức năng quản lý đất đai kiểm tra, hoàn thiện hồ sơ trình
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cùng cấp có thẩm quyền giao đất, cho thuê đất phê
duyệt phương án đấu giá quyền sử dụng đất.”.
7. Bổ sung điểm d vào sau điểm c khoản 3 Điều 61 như sau:
“d) Đối với các dự án trước ngày 01 tháng 01 năm 2026 đã có văn bản
chấp thuận của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh về việc thỏa thuận nhận quyền sử
dụng đất để thực hiện dự án hoặc văn bản chấp thuận của cơ quan nhà nước có
thẩm quyền cho phép nhận chuyển quyền sử dụng đất để thực hiện dự án và dự
án đó đã có quyết định chấp thuận chủ trương đầu tư đồng thời với chấp thuận
nhà đầu tư hoặc đã có quyết định chấp thuận nhà đầu tư mà nay thuộc trường
hợp Nhà nước thu hồi đất quy định tại Điều 79 của Luật Đất đai thì Nhà nước
thu hồi đất đối với phần diện tích chưa thỏa thuận được để tiếp tục thực hiện
dự án.”.
8. Sửa đổi, bổ sung khoản 3 Điều 63 như sau:
“3. Việc xác định hệ số điều chỉnh giá đất tại điểm b, điểm c khoản 1 và
điểm b, điểm c khoản 2 Điều này thực hiện theo quy định tại Nghị định số
71/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 226/2025/NĐ-CP).
Trường hợp không có đủ thông tin để xác định hệ số điều chỉnh giá đất tại thời
điểm bàn giao đất trên thực tế theo quy định thì đơn vị tư vấn xác định giá đất
cụ thể theo các phương pháp xác định giá đất khác quy định tại Nghị định số
71/2024/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định số 226/2025/NĐ-CP),
báo cáo Hội đồng thẩm định giá đất cụ thể xem xét, quyết định.
Trường hợp kết quả xác định giá đất cụ thể thấp hơn giá đất trong bảng giá
đất tại thời điểm bàn giao đất trên thực tế thì giá đất được áp dụng theo bảng
giá đất.”.
9. Bổ sung Điều 63a vào sau Điều 63 như sau:
“Điều 63a. Các trường hợp bất khả kháng khi gia hạn sử dụng đất
quy định tại khoản 3 Điều 172 của Luật Đất đai
1. Trường hợp bất khả kháng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ, e và g
khoản 1 Điều 31 của Nghị định số 102/2024/NĐ-CP.
2. Trường hợp người sử dụng đất đã nộp hồ sơ xin gia hạn theo quy định
tại khoản 1 Điều 64 của Nghị định số 102/2024/NĐ-CP hoặc đã nộp hồ sơ xin
gia hạn theo quy định của Nghị định số 151/2025/NĐ-CP nhưng hết thời hạn sử
dụng đất mà chưa có quyết định gia hạn sử dụng đất hoặc chưa có quyết định thu
hồi đất.”.
10. Bổ sung Điều 72a vào sau Điều 72 như sau:
“Điều 72a. Giao đất, cho thuê đất, giao khu vực biển để thực hiện hoạt
động lấn biển
1. Trường hợp giao đất, cho thuê đất thông qua đấu giá quyền sử dụng đất
để thực hiện dự án đầu tư lấn biển hoặc dự án đầu tư có hạng mục lấn biển thì
trình tự, thủ tục thực hiện theo quy định tại Điều 55 của Nghị định này.
2. Cơ quan, người có thẩm quyền quyết định giao đất, cho thuê đất đồng
thời với giao khu vực biển để thực hiện hoạt động lấn biển. Chủ đầu tư dự án
đầu tư lấn biển hoặc dự án đầu tư có hạng mục lấn biển không phải nộp tiền sử
dụng khu vực biển để thực hiện hoạt động lấn biển.
3. Thời điểm xác định người sử dụng đất phải đưa đất vào sử dụng tính từ
ngày có thông báo chấp thuận kết quả nghiệm thu đối với toàn bộ hoặc từng
phần diện tích đã hoàn thành hoạt động lấn biển theo tiến độ của dự án đầu tư
lấn biển hoặc hạng mục lấn biển trong dự án đầu tư.”.
11. Sửa đổi, bổ sung một số điểm, khoản của Điều 87 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung công thức tính tiền sử dụng đất hằng năm khi sử dụng
đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng
kinh tế được xác định quy định tại khoản 1 như sau:
Tiền sử dụng đất hằng năm = Diện tích đất sử dụng kết hợp với hoạt động
lao động sản xuất, xây dựng kinh tế theo phương án được phê duyệt x Giá đất
theo bảng giá đất x Hệ số điều chỉnh giá đất x Tỷ lệ % đơn giá sử dụng đất hằng
năm x Tỷ lệ % doanh thu ngoài nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, an ninh hằng năm;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 1 như sau:
“a) Diện tích đất sử dụng kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây
dựng kinh tế không bao gồm các diện tích: Đường giao thông nội bộ, nhà ăn,
nhà bếp, nhà ở, nhà làm việc (trừ nhà làm việc của doanh nghiệp nhà nước do
Bộ Quốc phòng, Bộ Công an được giao quản lý), nhà bảo vệ, nhà để xe, khuôn
viên cây xanh, hành lang an toàn, bãi thử vũ khí, khu vực huấn luyện, đường
lăn, sân đỗ máy bay, đường cất hạ cánh, khu vực, nhà chứa máy bay, nhà ga,
đất phục vụ tĩnh không sân bay, công trình phục vụ tuần tra, bảo vệ sân bay,
đài chỉ huy sân bay và các công trình thiết yếu khác phục vụ hoạt động khai
thác bay, khu thể dục thể thao, nhà truyền thống, nhà văn hóa, nhà sinh hoạt
cộng đồng, nhà trẻ, mẫu giáo, đội sản xuất, khu vườn ươm, nhà khách, nhà nghỉ
cho cán bộ, công nhân viên chức, nhà ở cho công nhân và các diện tích khác
không tạo ra lợi nhuận;”;
c) Bổ sung khoản 5 vào sau khoản 4 như sau:
“5. Trường hợp đến ngày 01 tháng 01 năm 2026 mà phương án sử dụng
đất quốc phòng, an ninh kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, xây dựng
kinh tế đã được phê duyệt nhưng chưa tính tiền sử dụng đất hằng năm thì tiền
sử dụng đất hằng năm được tính theo công thức quy định của pháp luật tại thời
điểm phê duyệt phương án sử dụng đất.”.
12. Sửa đổi, bổ sung một số điểm tại khoản 2 của Điều 99 như sau:
a) Sửa đổi, bổ sung điểm b như sau:
“b) Diện tích đất sử dụng vào mục đích kết hợp không quá 50% diện tích
đất sử dụng vào mục đích chính. Điều kiện quy định tại điểm này không áp
dụng đối với đất ở sử dụng kết hợp đa mục đích, các loại đất kết hợp mục đích
hoạt động khoáng sản;”;
b) Sửa đổi, bổ sung điểm d như sau:
“d) Việc xây dựng, cải tạo công trình để sử dụng vào mục đích kết hợp phải
phù hợp với quy định của pháp luật về xây dựng hoặc quy định của pháp luật khác
có liên quan;”.