Điều 13. Xác định dự toán chi thù lao tham gia nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Căn cứ: Điều 13, 39/2025/TT-BKHCN — Thông tư 39/2025/TT-BKHCN Quy định chi tiết và hướng dẫn về lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán một số nội dung chi ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
Tóm tắt
Điều 13 quy định nguyên tắc xác định dự toán chi thù lao cho các chức danh tham gia nhiệm vụ KHCN&ĐMST; xác định căn cứ, định mức tối đa và cách tính theo tháng quy đổi; đồng thời quy định dự toán tiền công thuê lao động phổ thông và trách nhiệm của tổ chức chủ trì trong thanh toán.
Ý chính cần nhớ
- ▸Thù lao là khoản tiền bù đắp công sức lao động trí óc, tính theo số tháng quy đổi tham gia nhiệm vụ.
- ▸Mức thù lao cụ thể do Hội đồng xét tài trợ, đặt hàng quyết định trong phạm vi mức trần kinh phí hỗ trợ từ NSNN.
- ▸Chủ nhiệm nhiệm vụ tối đa không quá 70 triệu đồng/người/tháng; chức danh khác tối đa 0,8 lần mức của chủ nhiệm và không vượt hệ số lao động khoa học.
- ▸Tổ chức chủ trì và chủ nhiệm xây dựng thuyết minh dự toán tiền thù lao chi tiết theo chức danh/nhóm chức danh, quy đổi theo tháng.
- ▸Thời gian xác định dự toán là thời gian quy đổi theo tháng dự kiến, được rà soát khi thẩm định kinh phí.
- ▸Nếu không đủ một tháng, tiền thù lao tính theo mức tháng chia 26 ngày nhân số ngày thực hiện.
- ▸Tiền công thuê lao động phổ thông tính theo mức lương tối thiểu vùng cao nhất tính theo ngày (lương tháng chia 26 ngày).
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm tưởng mọi chức danh đều được hưởng tối đa 70 triệu đồng/tháng; thực tế chỉ chủ nhiệm nhiệm vụ được mức này, các chức danh khác tối đa 0,8 lần.
- Bỏ qua yêu cầu không vượt hệ số lao động khoa học của chức danh theo Điều 9 Thông tư 39/2025/TT-BKHCN.
- Cho rằng Hội đồng quyết định mức thù lao không giới hạn; thực tế phải trong phạm vi mức trần kinh phí hỗ trợ từ NSNN.
Giải thích
Nguyên văn Điều 13. Xác định dự toán chi thù lao tham gia nhiệm vụ khoa học,
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.