Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 61/2024/QH15

Điều 14. Dự án, công trình điện lực khẩn cấp

Căn cứ: Điều 14, 61/2024/QH15 — Luật Điện lực số 61/2024/QH15

Tóm tắt

Điều 14 xác định các loại dự án, công trình điện lực được coi là khẩn cấp, bao gồm: khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh; bù đắp thiếu hụt công suất nguồn điện; và các công trình lưới điện quan trọng chống quá tải hoặc đáp ứng yêu cầu cấp bách quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội. Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí xác định dự án khẩn cấp đối với trường hợp bù đắp thiếu hụt công suất và lưới điện quan trọng.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Dự án, công trình điện lực khẩn cấp gồm 03 nhóm: (1) khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh; (2) bù đắp thiếu hụt công suất nguồn điện; (3) lưới điện quan trọng chống quá tải hoặc yêu cầu cấp bách quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • ▸Nhóm (2) áp dụng khi: dự án nguồn điện khác chậm tiến độ gây nguy cơ thiếu điện; phụ tải tăng ngoài dự tính; hoặc dừng dự án nguồn điện khác.
  • ▸Nhóm (3) gồm lưới điện truyền tải công suất giữa các khu vực để chống quá tải; theo yêu cầu cấp bách quốc phòng, an ninh; hoặc phát triển kinh tế - xã hội địa phương.
  • ▸Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí xác định dự án khẩn cấp cho nhóm (2) và nhóm (3).

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa dự án khẩn cấp do thiên tai, dịch bệnh với dự án khẩn cấp do thiếu hụt công suất; mỗi loại có căn cứ và tiêu chí khác nhau.
  • Tưởng rằng mọi dự án lưới điện quan trọng đều đương nhiên là khẩn cấp; phải thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 1.
  • Cho rằng Chính phủ quy định tiêu chí cho tất cả các dự án khẩn cấp; thực tế chỉ quy định cho điểm b và điểm c khoản 1.

Giải thích

Điều 14 liệt kê các dự án, công trình điện lực được xem là khẩn cấp. Nhóm thứ nhất là các dự án xây mới hoặc sửa chữa, cải tạo để kịp thời khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh theo pháp luật về xây dựng và quy định khác. Nhóm thứ hai là dự án nguồn điện và lưới điện đấu nối nhằm bù đắp lượng công suất nguồn điện thiếu hụt so với quy hoạch, do chậm tiến độ dự án khác gây nguy cơ thiếu điện, do phụ tải tăng ngoài dự tính, hoặc do dừng dự án nguồn điện khác. Nhóm thứ ba là dự án lưới điện có vai trò quan trọng trong truyền tải công suất giữa các khu vực để chống quá tải, hoặc theo yêu cầu cấp bách bảo đảm quốc phòng, an ninh, phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí xác định dự án khẩn cấp cho nhóm thứ hai và thứ ba, bảo đảm kịp thời giải quyết các vấn đề bức thiết về an ninh cung cấp điện.
Nguyên văn Điều 14. Dự án, công trình điện lực khẩn cấp
1. Dự án, công trình điện lực khẩn cấp bao gồm: a) Dự án, công trình điện lực xây mới hoặc sửa chữa, cải tạo nhằm kịp thời khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh theo quy định của pháp luật về xây dựng và quy định khác của pháp luật có liên quan; 36 CÔNG BÁO/Số 1531 + 1532/Ngày 30-12-2024 b) Dự án, công trình xây dựng nguồn điện và lưới điện đấu nối nhằm bù đắp lượng công suất nguồn điện thiếu hụt so với công suất theo quy hoạch phát triển điện lực: do chậm tiến độ của các dự án đầu tư xây dựng nguồn điện khác gây nguy cơ thiếu điện; do phụ tải khu vực, quốc gia tăng ngoài dự tính; do dừng dự án đầu tư xây dựng công trình nguồn điện khác; c) Dự án, công trình xây dựng lưới điện có vai trò quan trọng trong việc truyền tải công suất nguồn điện giữa các khu vực để chống quá tải của lưới điện; theo yêu cầu cấp bách bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc yêu cầu cấp bách cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; 2. Chính phủ quy định nguyên tắc, tiêu chí xác định dự án, công trình điện lực khẩn cấp quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều này trên cơ sở bảo đảm kịp thời đáp ứng yêu cầu giải quyết các vấn đề bức thiết về bảo đảm an ninh cung cấp điện.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.