Điều 14. Xác định người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển viên chức
Căn cứ: Điều 14, 259/2026/NĐ-CP — Nghị định 259/2026/NĐ-CP Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức
Tóm tắt
Điều 14 quy định điều kiện để được xác định là người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển viên chức: điểm vòng 2 đạt từ 50 điểm trở lên và tổng điểm vòng 2 cộng điểm ưu tiên (nếu có) cao hơn theo thứ tự từ cao xuống thấp trong chỉ tiêu của từng vị trí việc làm. Khi có nhiều người bằng điểm ở chỉ tiêu cuối cùng, ưu tiên người có điểm vòng 2 cao hơn; nếu vẫn không xác định được thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng quyết định. Điều này cũng quy định cách xác định đơn vị trúng tuyển khi tuyển chung nhiều đơn vị và việc không bảo lưu kết quả xét tuyển.
Ý chính cần nhớ
- ▸Điểm vòng 2 phải đạt từ 50 điểm trở lên.
- ▸Tổng điểm vòng 2 cộng điểm ưu tiên (nếu có) phải cao hơn theo thứ tự từ cao xuống thấp trong phạm vi chỉ tiêu được tuyển dụng của từng vị trí việc làm.
- ▸Nếu nhiều người bằng điểm ở chỉ tiêu cuối cùng: người có điểm vòng 2 cao hơn là người trúng tuyển; nếu vẫn không xác định được thì người đứng đầu cơ quan, đơn vị có thẩm quyền tuyển dụng quyết định.
- ▸Vị trí tuyển chung cho nhiều đơn vị: xác định đơn vị trúng tuyển theo thứ tự ưu tiên lựa chọn trong Phiếu đăng ký dự tuyển; nếu nhiều người cùng đăng ký vào một đơn vị vượt chỉ tiêu thì ưu tiên người có kết quả tuyển dụng cao hơn; nếu vẫn bằng nhau ở chỉ tiêu cuối cùng thì áp dụng thứ tự ưu tiên tại khoản 2 Điều 14.
- ▸Người không trúng tuyển trong kỳ xét tuyển không được bảo lưu kết quả xét tuyển cho các kỳ xét tuyển lần sau.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm điều kiện đạt từ 50 điểm trở lên của vòng 2 với đạt từ 50% điểm tối đa.
- Nhầm thứ tự ưu tiên khi bằng điểm ở chỉ tiêu cuối cùng: chỉ ưu tiên điểm vòng 2 cao hơn, không có tiêu chí điểm bài thi viết như thi tuyển.
- Cho rằng người không trúng tuyển được bảo lưu kết quả xét tuyển.
Giải thích
Nguyên văn Điều 14. Xác định người trúng tuyển trong kỳ xét tuyển viên chức
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.