Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 88/2015/QH13

Điều 17. Chứng từ điện tử

Căn cứ: Điều 17, 88/2015/QH13 — Luật 88/2015/QH13 Luật Kế toán

Tóm tắt

Chứng từ điện tử được coi là chứng từ kế toán khi đủ nội dung Điều 16 và thể hiện dạng dữ liệu điện tử, mã hóa không bị thay đổi; phải bảo mật, bảo toàn; khi chuyển đổi giấy – điện tử thì chứng từ điện tử có giá trị giao dịch.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Điều kiện: có đủ nội dung Điều 16, dạng dữ liệu điện tử, được mã hóa không bị thay đổi khi truyền qua mạng hoặc trên vật mang tin.
  • ▸Phải bảo đảm tính bảo mật và bảo toàn dữ liệu, chống khai thác, xâm nhập, sao chép, đánh cắp, sử dụng sai quy định.
  • ▸Khi chuyển từ giấy sang điện tử để giao dịch, thanh toán: chứng từ điện tử có giá trị thực hiện nghiệp vụ; chứng từ giấy chỉ để lưu giữ, ghi sổ, theo dõi, kiểm tra.
  • ▸Chứng từ điện tử được quản lý như tài liệu kế toán ở dạng nguyên bản nhưng phải có thiết bị phù hợp để sử dụng.

Lưu ý dễ nhầm

  • Cho rằng chứng từ điện tử không cần đủ nội dung của Điều 16.
  • Nhầm chứng từ giấy sau khi chuyển đổi vẫn có hiệu lực giao dịch, thanh toán.

Giải thích

Điều 17 quy định về chứng từ điện tử. Khoản 1 nêu chứng từ điện tử được coi là chứng từ kế toán khi có các nội dung quy định tại Điều 16, được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử, được mã hóa mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, thẻ thanh toán. Khoản 2 yêu cầu bảo đảm tính bảo mật, bảo toàn dữ liệu, chống các hành vi lợi dụng khai thác, xâm nhập, sao chép, đánh cắp hoặc sử dụng không đúng quy định; chứng từ điện tử được quản lý như tài liệu kế toán ở dạng nguyên bản nhưng phải có đủ thiết bị phù hợp để sử dụng. Khoản 3 quy định khi chứng từ giấy được chuyển thành chứng từ điện tử để giao dịch, thanh toán hoặc ngược lại thì chứng từ điện tử có giá trị để thực hiện nghiệp vụ kinh tế, tài chính đó; chứng từ bằng giấy chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi và kiểm tra, không có hiệu lực để giao dịch, thanh toán.
Nguyên văn Điều 17. Chứng từ điện tử
1. Chứng từ điện tử được coi là chứng từ kế toán khi có các nội dung quy định tại Điều 16 của Luật này và được thể hiện dưới dạng dữ liệu điện tử, được mã hóa mà không bị thay đổi trong quá trình truyền qua mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc trên vật mang tin như băng từ, đĩa từ, các loại thẻ thanh toán. 2. Chứng từ điện tử phải bảo đảm tính bảo mật và bảo toàn dữ liệu, thông tin trong quá trình sử dụng và lưu trữ; phải được quản lý, kiểm tra chống các hình thức lợi dụng khai thác, xâm nhập, sao chép, đánh cắp hoặc sử dụng chứng từ điện tử không đúng quy định. Chứng từ điện tử được quản lý như tài liệu kế toán ở dạng nguyên bản mà nó được tạo ra, gửi đi hoặc nhận nhưng phải có đủ thiết bị phù hợp để sử dụng. 3. Khi chứng từ bằng giấy được chuyển thành chứng từ điện tử để giao dịch, thanh toán hoặc ngược lại thì chứng từ điện tử có giá trị để thực hiện nghiệp vụ kinh tế, tài chính đó, chứng từ bằng giấy chỉ có giá trị lưu giữ để ghi sổ, theo dõi và kiểm tra, không có hiệu lực để giao dịch, thanh toán.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.