Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 96/2026/NĐ-CP

Điều 17. Nguyên tắc áp dụng hạn chế về tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài

Căn cứ: Điều 17, 96/2026/NĐ-CP — Nghị định 96/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

Tóm tắt

Điều 17 quy định nguyên tắc chung về tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài: mặc định đối xử như nhà đầu tư trong nước nếu không thuộc danh mục hạn chế; không được tiếp cận ngành, nghề chưa mở; ngành, nghề có điều kiện phải đáp ứng điều kiện; và các quy tắc đặc thù với ngành chưa cam kết, điều ước quốc tế, tỷ lệ sở hữu nước ngoài.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Mặc định: nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận như nhà đầu tư trong nước, trừ ngành, nghề thuộc Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường tại Phụ lục I.
  • ▸Ngành, nghề chưa được tiếp cận tại Mục A Phụ lục I: nhà đầu tư nước ngoài không được đầu tư.
  • ▸Ngành, nghề tiếp cận có điều kiện tại Mục B Phụ lục I: phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường theo Điều 18.
  • ▸Ngành, nghề Việt Nam chưa cam kết: nếu pháp luật Việt Nam không hạn chế thì tiếp cận như nhà đầu tư trong nước; nếu có hạn chế thì áp dụng pháp luật Việt Nam.
  • ▸Văn bản mới ban hành có điều kiện tiếp cận thị trường: nhà đầu tư đã được áp dụng trước ngày văn bản có hiệu lực được tiếp tục thực hiện hoạt động đầu tư theo điều kiện đó; trường hợp thành lập tổ chức kinh tế mới, dự án mới, nhận chuyển nhượng dự án, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, đầu tư theo hợp đồng hoặc điều chỉnh, bổ sung mục tiêu, ngành, nghề mà văn bản mới yêu cầu điều kiện tiếp cận thị trường thì phải đáp ứng điều kiện đó.
  • ▸Nhà đầu tư nước ngoài đầu tư vào nhiều ngành, nghề khác nhau tại Phụ lục I phải đáp ứng toàn bộ điều kiện tiếp cận thị trường của các ngành, nghề đó.
  • ▸Nhà đầu tư thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ không phải thành viên WTO được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường như nhà đầu tư WTO, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế có quy định khác.
  • ▸Điều ước quốc tế về đầu tư có điều kiện thuận lợi hơn thì nhà đầu tư được áp dụng theo điều ước đó; nếu nhiều điều ước có quy định khác nhau thì được lựa chọn áp dụng một điều ước cho tất cả ngành, nghề và khi đã lựa chọn phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo toàn bộ điều ước đó.
  • ▸Tỷ lệ sở hữu nước ngoài theo điều ước: nhiều nhà đầu tư thuộc một hoặc nhiều điều ước thì tổng tỷ lệ không vượt quá tỷ lệ cao nhất theo một điều ước đối với ngành, nghề cụ thể; nhiều nhà đầu tư cùng một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ thì tổng tỷ lệ không vượt quá tỷ lệ theo điều ước áp dụng cho các nhà đầu tư đó; công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán nếu pháp luật chứng khoán có quy định khác thì theo pháp luật chứng khoán; tổ chức kinh tế có nhiều ngành, nghề mà điều ước quy định tỷ lệ khác nhau thì tỷ lệ sở hữu nước ngoài không vượt quá hạn chế thấp nhất.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm giữa Mục A (chưa được tiếp cận, không được đầu tư) và Mục B (tiếp cận có điều kiện, phải đáp ứng điều kiện).
  • Tưởng rằng nhà đầu tư không thuộc WTO bị loại trừ hoàn toàn; thực tế được áp dụng như nhà đầu tư WTO trừ khi pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế có quy định khác.
  • Nhầm quy tắc tỷ lệ sở hữu: nhiều nhà đầu tư thuộc nhiều điều ước thì lấy tỷ lệ cao nhất của một điều ước cho ngành, nghề cụ thể, nhưng nếu tổ chức kinh tế có nhiều ngành, nghề quy định khác nhau thì lấy hạn chế thấp nhất.

Giải thích

Điều 17 Nghị định 96/2026/NĐ-CP đặt ra các nguyên tắc áp dụng hạn chế tiếp cận thị trường cho nhà đầu tư nước ngoài. Trước hết, nhà đầu tư nước ngoài mặc định được tiếp cận thị trường như nhà đầu tư trong nước, trừ các ngành, nghề thuộc Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường tại Phụ lục I. Với các ngành, nghề tại Mục A Phụ lục I, nhà đầu tư nước ngoài không được đầu tư; với ngành, nghề tại Mục B, phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường theo Điều 18. Đối với ngành, nghề Việt Nam chưa cam kết, nếu pháp luật Việt Nam không hạn chế thì được tiếp cận như nhà đầu tư trong nước; nếu có hạn chế thì áp dụng pháp luật Việt Nam. Khi có văn bản mới ban hành quy định điều kiện tiếp cận thị trường, nhà đầu tư đã được áp dụng trước đó được tiếp tục thực hiện hoạt động đầu tư, nhưng nếu thành lập tổ chức kinh tế mới, thực hiện dự án mới, nhận chuyển nhượng dự án, góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp, đầu tư theo hợp đồng hoặc điều chỉnh, bổ sung mục tiêu, ngành, nghề thuộc diện phải đáp ứng điều kiện thì phải đáp ứng. Điều 17 cũng quy định việc áp dụng điều ước quốc tế, lựa chọn điều ước, và các quy tắc về tỷ lệ sở hữu nước ngoài.
Nguyên văn Điều 17. Nguyên tắc áp dụng hạn chế về tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài
1. Trừ những ngành, nghề thuộc Danh mục ngành, nghề hạn chế tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài quy định tại Phụ lục I của Nghị định này, nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường như quy định đối với nhà đầu tư trong nước. 2. Nhà đầu tư nước ngoài không được đầu tư trong các ngành, nghề chưa được tiếp cận thị trường theo quy định tại Mục A Phụ lục I của Nghị định này. 3. Đối với các ngành, nghề tiếp cận thị trường có điều kiện đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại Mục B Phụ lục I của Nghị định này, nhà đầu tư nước ngoài phải đáp ứng các điều kiện tiếp cận thị trường được đăng tải theo quy định tại Điều 18 Nghị định này. 4. Điều kiện tiếp cận thị trường đối với các ngành, nghề Việt Nam chưa cam kết về tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài được áp dụng như sau: a) Trường hợp các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ (sau đây gọi chung là pháp luật Việt Nam) không có quy định hạn chế tiếp cận thị trường đối với ngành, nghề đó thì nhà đầu tư nước ngoài được tiếp cận thị trường như quy định đối với nhà đầu tư trong nước; b) Trường hợp pháp luật Việt Nam đã có quy định về hạn chế tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài đối với ngành, nghề đó thì áp dụng quy định của pháp luật Việt Nam. 5. Trường hợp các luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nghị định của Chính phủ được ban hành (sau đây gọi chung là văn bản mới ban hành) có quy định về điều kiện tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài đối với các ngành, nghề Việt Nam chưa cam kết theo quy định tại khoản 4 Điều này thì các điều kiện đó được áp dụng như sau: a) Nhà đầu tư nước ngoài đã được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường theo quy định tại khoản 4 Điều này trước ngày văn bản mới ban hành có hiệu lực được tiếp tục thực hiện hoạt động đầu tư theo các điều kiện đó. Trường hợp thành lập tổ chức kinh tế mới, thực hiện dự án đầu tư mới, nhận chuyển nhượng dự án đầu tư, đầu tư góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp của tổ chức kinh tế khác, đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc điều chỉnh, bổ sung mục tiêu, ngành, nghề mà theo quy định của văn bản mới ban hành phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài thì phải đáp ứng điều kiện đó. Trong trường hợp này, cơ quan nhà nước có thẩm quyền không xem xét lại điều kiện tiếp cận thị trường đối với các ngành, nghề mà nhà đầu tư đã được chấp thuận trước đó; b) Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư sau thời điểm văn bản mới được ban hành có hiệu lực phải đáp ứng điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo quy định của văn bản đó. 6. Nhà đầu tư nước ngoài thực hiện hoạt động đầu tư thuộc các ngành, nghề khác nhau quy định tại Phụ lục I Nghị định này phải đáp ứng toàn bộ điều kiện tiếp cận thị trường đối với các ngành, nghề đó. 7. Nhà đầu tư nước ngoài thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ không phải là thành viên WTO thực hiện hoạt động đầu tư tại Việt Nam được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường như quy định đối với nhà đầu tư thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ là thành viên WTO, trừ trường hợp pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế giữa Việt Nam và quốc gia, vùng lãnh thổ đó có quy định khác. 8. Nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng điều chỉnh của điều ước quốc tế về đầu tư có quy định về điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư đó thuận lợi hơn so với quy định của pháp luật Việt Nam thì được áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường theo điều ước đó. 9. Nhà đầu tư nước ngoài thuộc đối tượng áp dụng của các điều ước quốc tế về đầu tư có quy định khác nhau về điều kiện tiếp cận thị trường thì được lựa chọn áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường đối với tất cả các ngành, nghề kinh doanh theo một trong các điều ước đó. Trường hợp đã lựa chọn áp dụng điều kiện tiếp cận thị trường theo một điều ước quốc tế về đầu tư (gồm cả điều ước được ký mới hoặc được sửa đổi, bổ sung sau ngày điều ước đó có hiệu lực mà nhà đầu tư đó thuộc đối tượng áp dụng) thì nhà đầu tư nước ngoài thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo toàn bộ quy định của điều ước đó. 10. Hạn chế về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài theo quy định tại các điều ước quốc tế về đầu tư được áp dụng như sau: a) Trường hợp nhiều nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế và thuộc đối tượng áp dụng của một hoặc nhiều điều ước quốc tế về đầu tư thì tổng tỷ lệ sở hữu của tất cả các nhà đầu tư nước ngoài trong tổ chức kinh tế đó không được vượt quá tỷ lệ cao nhất theo quy định của một điều ước quốc tế có quy định về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài đối với một ngành, nghề cụ thể; b) Trường hợp nhiều nhà đầu tư nước ngoài thuộc cùng một quốc gia hoặc vùng lãnh thổ góp vốn, mua cổ phần, mua phần vốn góp vào tổ chức kinh tế thì tổng tỷ lệ sở hữu của tất cả các nhà đầu tư đó không được vượt quá tỷ lệ sở hữu quy định tại điều ước quốc tế về đầu tư áp dụng đối với các nhà đầu tư đó; c) Đối với công ty đại chúng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán hoặc quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng khoán theo quy định của pháp luật về chứng khoán, trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thì thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng khoán; d) Trường hợp tổ chức kinh tế có nhiều ngành, nghề kinh doanh mà điều ước quốc tế về đầu tư có quy định khác nhau về tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài thì tỷ lệ sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tại tổ chức kinh tế đó không vượt quá hạn chế về tỷ lệ sở hữu nước ngoài đối với ngành, nghề có hạn chế về tỷ lệ sở hữu nước ngoài thấp nhất.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.