Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 71/2026/NĐ-CP

Điều 17. Vi phạm quy định về đóng gói, vận chuyển, vận chuyển quá cảnh vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân

Căn cứ: Điều 17, 71/2026/NĐ-CP — Nghị định 71/2026/NĐ-CP Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử

Tóm tắt

Quy định mức phạt tiền cho các hành vi vi phạm trong đóng gói, vận chuyển, vận chuyển quá cảnh vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân. Mức phạt từ 10 triệu đến 120 triệu đồng tùy theo tính chất, mức độ vi phạm, kèm biện pháp khắc phục hậu quả.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Không đóng gói kiện hàng theo quy định: phạt 10-20 triệu đồng (khoản 1).
  • ▸Các hành vi không gắn nhãn cảnh báo, không thực hiện kế hoạch an toàn, không dùng đúng phương tiện, người áp tải không có chứng nhận đào tạo, không bảo đảm chỉ số vận chuyển, vận chuyển sai lộ trình, không thông báo khi không có người nhận, không đo suất liều, lưu giữ kho trung chuyển không an toàn: phạt 15-30 triệu đồng (khoản 2).
  • ▸Không báo cáo Cục An toàn bức xạ và hạt nhân khi kiện hàng không đúng hợp đồng hoặc có dấu hiệu hư hỏng, rò rỉ: phạt 20-40 triệu đồng (khoản 3).
  • ▸Từ chối vận chuyển vật liệu phóng xạ đã đủ điều kiện, được cấp phép: phạt 25-45 triệu đồng (khoản 4).
  • ▸Để rơi vãi vật liệu phóng xạ trong quá trình vận chuyển, vận chuyển quá cảnh: phạt 50-100 triệu đồng (khoản 5).
  • ▸Không tham gia khắc phục hậu quả khi sự cố xảy ra: phạt 60-120 triệu đồng (khoản 6).
  • ▸Biện pháp khắc phục hậu quả: buộc tìm kiếm, thu hồi vật liệu phóng xạ bị thất lạc, rơi vãi; buộc tẩy xạ nếu gây nhiễm bẩn trên mức quy định; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ hoặc tái xuất đối với hành vi rơi vãi trong vận chuyển quá cảnh (khoản 7).

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa mức phạt của hành vi không đóng gói (10-20 triệu) và không gắn nhãn cảnh báo (15-30 triệu).
  • Cho rằng mọi hành vi không báo cáo đều bị phạt 20-40 triệu, nhưng chỉ áp dụng cho hai trường hợp cụ thể tại khoản 3.
  • Nhầm biện pháp khắc phục hậu quả buộc tẩy xạ chỉ áp dụng khi gây nhiễm bẩn phóng xạ trên mức quy định.

Giải thích

Điều 17 quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm trong đóng gói, vận chuyển, vận chuyển quá cảnh vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân. Mức phạt tiền được chia theo nhóm hành vi: không đóng gói kiện hàng theo quy định phạt 10-20 triệu đồng; các hành vi như không gắn nhãn cảnh báo, không thực hiện kế hoạch an toàn, không sử dụng đúng phương tiện, người áp tải không có giấy chứng nhận đào tạo, không bảo đảm chỉ số vận chuyển, vận chuyển sai lộ trình, không thông báo khi không có người nhận, không đo suất liều, lưu giữ kho trung chuyển không an toàn phạt 15-30 triệu đồng; không báo cáo Cục An toàn bức xạ và hạt nhân khi kiện hàng không đúng hợp đồng hoặc có dấu hiệu hư hỏng, rò rỉ phạt 20-40 triệu đồng; từ chối vận chuyển vật liệu phóng xạ đã đủ điều kiện phạt 25-45 triệu đồng; để rơi vãi vật liệu phóng xạ phạt 50-100 triệu đồng; không tham gia khắc phục hậu quả khi sự cố phạt 60-120 triệu đồng. Ngoài ra, Điều 17 còn quy định biện pháp khắc phục hậu quả như buộc tìm kiếm, thu hồi vật liệu phóng xạ bị thất lạc, rơi vãi; buộc tẩy xạ khu vực nhiễm bẩn; buộc đưa ra khỏi lãnh thổ hoặc tái xuất đối với hành vi rơi vãi trong vận chuyển quá cảnh.
Nguyên văn Điều 17. Vi phạm quy định về đóng gói, vận chuyển, vận chuyển quá
cảnh vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân 1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi không đóng gói kiện hàng vật liệu phóng xạ theo quy định. 2. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi sau đây: a) Không gắn nhãn cảnh báo phóng xạ trên phương tiện vận chuyển, vận chuyển quá cảnh theo quy định; b) Không thực hiện kế hoạch bảo đảm an toàn, an ninh trong vận chuyển, vận chuyển quá cảnh theo quy định; c) Không sử dụng phương tiện vận chuyển theo quy định; d) Người áp tải không có giấy chứng nhận đào tạo an toàn bức xạ; không có chứng chỉ nhân viên bức xạ theo quy định; đ) Không bảo đảm chỉ số vận chuyển theo quy định; e) Vận chuyển không theo đúng lộ trình trong kế hoạch vận chuyển đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt; g) Không thông báo Cục An toàn bức xạ và hạt nhân khi kiện hàng vật liệu phóng xạ không có người nhận theo quy định; h) Không tiến hành đo đạc, lưu giữ kết quả đo suất liều trong quá trình vận chuyển; i) Lưu giữ kiện hàng chứa vật liệu phóng xạ tại kho trung chuyển không bảo đảm an toàn, an ninh theo quy định. 3. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi không báo cáo Cục An toàn bức xạ và hạt nhân theo quy định trong các trường hợp sau đây: a) Kiện hàng vật liệu phóng xạ nhận được không đúng với hợp đồng vận chuyển về chủng loại, số lượng; b) Kiện hàng vật liệu phóng xạ có dấu hiệu bị hư hỏng, bị tháo dỡ, bị rò rỉ phóng xạ trong quá trình vận chuyển. 4. Phạt tiền từ 25.000.000 đồng đến 45.000.000 đồng đối với hành vi từ chối vận chuyển vật liệu phóng xạ, thiết bị hạt nhân đã đủ điều kiện vận chuyển và được cấp phép vận chuyển theo quy định. 5. Phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi để rơi vãi vật liệu phóng xạ trong quá trình vận chuyển, vận chuyển quá cảnh. 6. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 120.000.000 đồng đối với hành vi không tham gia khắc phục hậu quả cùng các bên liên quan khi sự cố xảy ra trong quá trình vận chuyển, vận chuyển quá cảnh. 7. Biện pháp khắc phục hậu quả: a) Buộc tìm kiếm, thu hồi vật liệu phóng xạ bị thất lạc, bị rơi vãi để quản lý bảo đảm an toàn, an ninh đối với hành vi quy định tại khoản 5 Điều này; b) Buộc tẩy xạ khu vực bị nhiễm bẩn phóng xạ để đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường đối với hành vi quy định tại khoản 5 Điều này trong trường hợp hành vi vi phạm gây nhiễm bẩn phóng xạ trên mức quy định; c) Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất vật liệu phóng xạ đối với hành vi quy định tại khoản 5 Điều này trong trường hợp vận chuyển quá cảnh.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.