Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 30/2026/TT-BGDĐT

Điều 18. Điều khoản thi hành — Môn học chưa có mã ngành và trường hợp chuyển tiếp đến 31/12/2030

Căn cứ: Điều 18, 30/2026/TT-BGDĐT — Thông tư 30/2026/TT-BGDĐT Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông

Tóm tắt

Với môn học chưa có mã ngành đào tạo giáo viên, người đứng đầu cơ sở giáo dục phân công giáo viên hiện có và cử giáo viên tham gia lớp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp để đảm bảo tiêu chuẩn năng lực chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy môn học được phân công. Trước ngày 30 tháng 5 năm 2023, giáo viên có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên hoặc có bằng cử nhân và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm được phân công giảng dạy môn học khác chuyên ngành và được người đứng đầu cơ sở giáo dục đánh giá đạt tiêu chuẩn thì được xác định đạt tiêu chuẩn trình độ đào tạo và được bổ nhiệm chức danh, xếp lương; đến ngày 31 tháng 12 năm 2030 phải hoàn thành tiêu chuẩn trình độ đào tạo theo quy định của Chính phủ.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Môn học chưa có mã ngành đào tạo giáo viên: người đứng đầu cơ sở giáo dục phân công giáo viên hiện có và cử giáo viên tham gia lớp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp.
  • ▸Mục tiêu: đảm bảo đạt tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy môn học được phân công.
  • ▸Trước ngày 30 tháng 5 năm 2023: giáo viên có bằng cử nhân trở lên ngành đào tạo giáo viên, hoặc bằng cử nhân và chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, được phân công giảng dạy môn học khác chuyên ngành và được người đứng đầu cơ sở giáo dục đánh giá đạt tiêu chuẩn thì được xác định đạt tiêu chuẩn trình độ đào tạo và được bổ nhiệm chức danh, xếp lương tương ứng.
  • ▸Đến ngày 31 tháng 12 năm 2030, các trường hợp này phải hoàn thành tiêu chuẩn trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu môn học giảng dạy theo quy định của Chính phủ.

Lưu ý dễ nhầm

  • Bỏ sót điều kiện "được người đứng đầu cơ sở giáo dục đánh giá đạt tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ".
  • Nhầm việc được xác định đạt tiêu chuẩn với việc miễn hoàn thành tiêu chuẩn trình độ đào tạo; văn bản vẫn đặt mốc đến 31/12/2030.

Giải thích

Điều 18 khoản 4 quy định với môn học trong chương trình giáo dục phổ thông chưa có mã ngành đào tạo giáo viên: người đứng đầu cơ sở giáo dục phân công giáo viên hiện có và cử giáo viên tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp để đảm bảo đạt tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy môn học được phân công. Khoản 5 quy định trường hợp trước ngày 30 tháng 5 năm 2023, giáo viên đã có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên, hoặc có bằng cử nhân và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, được phân công giảng dạy môn học khác với chuyên ngành được đào tạo và được người đứng đầu cơ sở giáo dục đánh giá đạt tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để giảng dạy môn học được phân công thì được xác định đạt tiêu chuẩn về trình độ đào tạo và được bổ nhiệm chức danh, xếp lương của vị trí việc làm giáo viên tương ứng. Tuy vậy, đến ngày 31 tháng 12 năm 2030, các trường hợp này phải hoàn thành tiêu chuẩn trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu môn học giảng dạy theo quy định của Chính phủ.
Nguyên văn Điều 18. Điều khoản thi hành
1. Nhiệm vụ theo từng hạng của chức danh giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông quy định tại Điều 3, Điều 4 và Điều 5 Thông tư này là những công việc giáo viên thực hiện sau khi được bổ nhiệm chức danh ở hạng tương ứng và trong suốt thời gian giữ hạng của chức danh nếu được hiệu trưởng phân công. Hiệu trưởng có thể phân công giáo viên thực hiện nhiệm vụ của hạng cao hơn nếu giáo viên có khả năng thực hiện. Đối với những nhiệm vụ mà cơ sở giáo dục phổ thông không được giao hoặc không đủ điều kiện thực hiện thì hiệu trưởng quyết định việc quy đổi sang các nhiệm vụ khác có liên quan để làm căn cứ đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ của giáo viên. 2. Trường hợp giáo viên phổ thông đã có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và bằng trung cấp trở lên các ngành đào tạo giáo viên hoặc có chứng chỉ, hoặc chứng nhận kiến thức, nghiệp vụ sư phạm, lý luận dạy học do các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cấp trước ngày 22 tháng 5 năm 2021 thì được xác định là có bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm của cấp học đang giảng dạy theo chương trình do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. 3. Bằng cử nhân chuyên ngành phù hợp quy định tại tiêu chuẩn trình độ đào tạo của giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông được xác định là bằng cử nhân chuyên ngành đào tạo giáo viên hoặc bằng cử nhân chuyên ngành không thuộc ngành đào tạo giáo viên mà trong chương trình đào tạo của chuyên ngành đó có các môn học hoặc học phần (thuộc khối kiến thức chuyên ngành) đảm bảo yêu cầu giảng dạy môn học cụ thể trong Chương trình giáo dục phổ thông. Người đứng đầu cơ quan có thẩm quyền quản lý cơ sở giáo dục quyết định hoặc phối hợp với cơ sở đào tạo (nơi cấp bằng) để xác định tính phù hợp của bằng cử nhân với môn học cụ thể trong Chương trình giáo dục phổ thông. 4. Đối với các môn học trong chương trình giáo dục phổ thông chưa có mã ngành đào tạo giáo viên thì người đứng đầu cơ sở giáo dục phân công giáo viên hiện có và cử giáo viên tham gia các lớp đào tạo, bồi dưỡng phù hợp để đảm bảo đạt tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy môn học được phân công. 5. Trước ngày 30 tháng 5 năm 2023, trường hợp giáo viên đã có bằng cử nhân trở lên thuộc ngành đào tạo giáo viên, hoặc có bằng cử nhân và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm được phân công giảng dạy môn học khác với chuyên ngành được đào tạo và được người đứng đầu cơ sở giáo dục đánh giá đạt tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ để giảng dạy môn học được phân công thì được xác định đạt tiêu chuẩn về trình độ đào tạo và được bổ nhiệm chức danh, xếp lương của vị trí việc làm giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông tương ứng theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đến ngày 31 tháng 12 năm 2030, các trường hợp quy định tại khoản này phải hoàn thành tiêu chuẩn trình độ đào tạo đáp ứng yêu cầu môn học giảng dạy theo quy định của Chính phủ.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.