Điều 19. Quản lý tiến độ thi công xây dựng
Căn cứ: Điều 19, 207/2026/NĐ-CP — Nghị định 207/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý chất Iượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng
Tóm tắt
Điều 19 quy định trước khi triển khai thi công, nhà thầu phải lập tiến độ thi công xây dựng phù hợp với thời gian thực hiện hợp đồng và tiến độ tổng thể của dự án, được chấp thuận; công trình quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì lập tiến độ cho từng giai đoạn theo tháng, quý, năm; các bên có trách nhiệm theo dõi, giám sát và điều chỉnh tiến độ nhưng không làm ảnh hưởng tiến độ tổng thể; trường hợp phải điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng thì thực hiện theo quy định của Chính phủ về quản lý hoạt động xây dựng.
Ý chính cần nhớ
- ▸Trước khi triển khai thi công, nhà thầu phải lập tiến độ thi công xây dựng phù hợp với thời gian thực hiện hợp đồng và tiến độ tổng thể của dự án, được chấp thuận.
- ▸Công trình có quy mô lớn và thời gian thi công kéo dài thì tiến độ được lập cho từng giai đoạn theo tháng, quý, năm.
- ▸Chủ đầu tư, bộ phận giám sát thi công của chủ đầu tư, nhà thầu thi công và các bên liên quan có trách nhiệm theo dõi, giám sát tiến độ thi công.
- ▸Điều chỉnh tiến độ trong trường hợp tiến độ một số giai đoạn bị kéo dài nhưng không được làm ảnh hưởng đến tiến độ tổng thể của dự án.
- ▸Trường hợp tiến độ bị kéo dài dẫn đến phải điều chỉnh dự án đầu tư xây dựng thì thực hiện theo quy định của Chính phủ về quản lý hoạt động xây dựng.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm rằng nhà thầu chỉ cần lập tiến độ khi công trình có quy mô lớn; thực tế mọi công trình trước khi triển khai thi công đều phải lập tiến độ và được chấp thuận.
- Cho rằng tiến độ từng giai đoạn bị kéo dài thì được điều chỉnh tùy ý; việc điều chỉnh không được làm ảnh hưởng đến tiến độ tổng thể của dự án.
- Bỏ qua trách nhiệm của chủ đầu tư, bộ phận giám sát thi công của chủ đầu tư và nhà thầu thi công trong việc theo dõi, giám sát tiến độ.
Giải thích
Nguyên văn Điều 19. Quản lý tiến độ thi công xây dựng
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.