Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 101/2024/NĐ-CP

Điều 19. Trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận hồ sơ và giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất

Căn cứ: Điều 19, 101/2024/NĐ-CP — Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định về điều tra cơ bản đất đai; đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất và Hệ thống thông tin đất đai

Tóm tắt

Điều này quy định trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận hồ sơ trong việc kiểm tra hồ sơ và cấp giấy tiếp nhận; đồng thời liệt kê các trường hợp cơ quan tiếp nhận, cơ quan giải quyết thủ tục không tiếp nhận hoặc dừng giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất. Điều cũng quy định việc tiếp tục thực hiện thủ tục sau khi hết thời hạn tạm dừng hoặc có văn bản giải quyết xong tranh chấp, hủy bỏ việc dừng, tạm dừng.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Cơ quan tiếp nhận kiểm tra tính đầy đủ của thành phần hồ sơ, tính thống nhất về nội dung thông tin giữa các giấy tờ, tính đầy đủ của nội dung kê khai và cấp Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả.
  • ▸Không yêu cầu nộp thêm giấy tờ, kê khai thêm thông tin mà Nghị định 101/2024/NĐ-CP không quy định.
  • ▸Cơ quan tiếp nhận, cơ quan giải quyết thủ tục không tiếp nhận hoặc dừng giải quyết và trả hồ sơ trong các trường hợp: không thuộc thẩm quyền, hồ sơ không đầy đủ, không thống nhất, kê khai không đầy đủ; có văn bản của cơ quan thi hành án, tố tụng yêu cầu tạm dừng/dừng; có văn bản thông báo kê biên tài sản thi hành án; có văn bản của UBND các cấp hoặc Bộ TN&MT về việc thụ lý đơn yêu cầu hòa giải, giải quyết tranh chấp; có văn bản của Tòa án thụ lý đơn đề nghị giải quyết tranh chấp; có văn bản của Trọng tài Thương mại Việt Nam thụ lý đơn giải quyết tranh chấp; có văn bản yêu cầu dừng thủ tục để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.
  • ▸Trường hợp đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà tài sản đang thế chấp và đã đăng ký thế chấp nhưng không có văn bản đồng ý của bên nhận thế chấp thì không tiếp nhận, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
  • ▸Trường hợp chủ đầu tư đã thế chấp dự án hoặc nhà ở hình thành trong tương lai mà chuyển nhượng, bán tài sản gắn liền với đất nhưng chưa đăng ký thay đổi để rút bớt tài sản thế chấp thì không tiếp nhận, trừ trường hợp bên nhận thế chấp và bên mua có thỏa thuận tiếp tục dùng tài sản làm tài sản thế chấp và đăng ký thay đổi bên bảo đảm.
  • ▸Khi hết thời hạn giải quyết theo quy định hoặc có văn bản giải quyết xong tranh chấp, hủy bỏ việc dừng, tạm dừng, kê biên thì cơ quan tiếp nhận, cơ quan giải quyết thủ tục tiếp tục thực hiện việc đăng ký.
  • ▸Đối với đăng ký, cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng trong dự án bất động sản, Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai chỉ kiểm tra tính đầy đủ của thành phần hồ sơ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 41 Nghị định 101/2024/NĐ-CP và không chịu trách nhiệm về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất, bán nhà ở, bán công trình theo pháp luật về nhà ở, xây dựng và kinh doanh bất động sản.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa trường hợp không tiếp nhận hồ sơ và trường hợp dừng giải quyết thủ tục; cả hai đều dẫn đến trả hồ sơ cho người yêu cầu.
  • Cho rằng cơ quan tiếp nhận được yêu cầu nộp thêm giấy tờ ngoài quy định; Điều 19 nghiêm cấm điều này.
  • Nhầm tưởng Văn phòng đăng ký đất đai phải kiểm tra điều kiện chuyển quyền sử dụng đất, bán nhà ở trong dự án bất động sản; thực tế họ chỉ kiểm tra thành phần hồ sơ theo Điều 41.

Giải thích

Điều 19 Nghị định 101/2024/NĐ-CP quy định trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận hồ sơ và giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất. Cơ quan tiếp nhận phải kiểm tra tính đầy đủ, thống nhất của hồ sơ, nội dung kê khai và cấp Giấy tiếp nhận hồ sơ và hẹn trả kết quả; không được yêu cầu nộp thêm giấy tờ, kê khai thêm thông tin ngoài quy định. Điều 19 liệt kê các trường hợp cơ quan tiếp nhận, cơ quan giải quyết thủ tục không tiếp nhận hoặc dừng giải quyết và trả hồ sơ, bao gồm: hồ sơ không thuộc thẩm quyền, không đầy đủ, không thống nhất, kê khai không đầy đủ; có văn bản của cơ quan thi hành án, tố tụng yêu cầu tạm dừng/dừng; có văn bản thông báo kê biên tài sản; có văn bản của UBND các cấp hoặc Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc thụ lý đơn yêu cầu hòa giải, giải quyết tranh chấp; có văn bản của Tòa án thụ lý đơn đề nghị giải quyết tranh chấp; có văn bản của Trọng tài Thương mại Việt Nam thụ lý đơn giải quyết tranh chấp; có văn bản yêu cầu dừng thủ tục để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; trường hợp đăng ký biến động do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho mà tài sản đang thế chấp nhưng không có văn bản đồng ý của bên nhận thế chấp; trường hợp chủ đầu tư đã thế chấp dự án hoặc nhà ở hình thành trong tương lai mà chuyển nhượng, bán tài sản nhưng chưa đăng ký thay đổi để rút bớt tài sản thế chấp (trừ khi có thỏa thuận tiếp tục dùng tài sản làm tài sản thế chấp và đăng ký thay đổi bên bảo đảm). Khi hết thời hạn giải quyết hoặc có văn bản giải quyết xong tranh chấp, hủy bỏ việc dừng, tạm dừng, kê biên thì cơ quan tiếp nhận, cơ quan giải quyết thủ tục tiếp tục thực hiện việc đăng ký. Đối với đăng ký, cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng trong dự án bất động sản, Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai chỉ kiểm tra tính đầy đủ của thành phần hồ sơ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 41 Nghị định 101/2024/NĐ-CP và không chịu trách nhiệm về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất, bán nhà ở, bán công trình theo pháp luật về nhà ở, xây dựng và kinh doanh bất động sản.
Nguyên văn Điều 19. Trách nhiệm của cơ quan tiếp nhận hồ sơ và giải quyết thủ tục
đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất 1. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ tại khoản 1 Điều 21 của Nghị định này chịu trách nhiệm: a) Kiểm tra tính đầy đủ của thành phần hồ sơ, tính thống nhất về nội dung thông tin giữa các giấy tờ, tính đầy đủ của nội dung kê khai và cấp Giấy tiếp nhận hồ sơ và 24 CÔNG BÁO/Số 913 + 914/Ngày 11-8-2024 hẹn trả kết quả theo mẫu quy định tại Nghị định của Chính phủ quy định về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính; b) Không yêu cầu nộp thêm giấy tờ, kê khai thêm thông tin mà Nghị định này không quy định. 2. Cơ quan tiếp nhận hồ sơ, cơ quan giải quyết thủ tục không tiếp nhận hồ sơ hoặc dừng giải quyết thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất và trả hồ sơ cho người yêu cầu đăng ký, trừ trường hợp đăng ký đất đai lần đầu mà không cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất, trong các trường hợp sau: a) Không thuộc thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ hoặc hồ sơ không đầy đủ thành phần hoặc không đảm bảo tính thống nhất nội dung thông tin giữa các giấy tờ hoặc kê khai nội dung không đầy đủ thông tin theo quy định; b) Nhận được văn bản của cơ quan thi hành án dân sự hoặc cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng yêu cầu tạm dừng hoặc dừng việc đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đối với tài sản là quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất của người sử dụng đất, chủ sở hữu tài sản gắn liền với đất thuộc đối tượng phải thi hành án theo quy định của pháp luật; c) Nhận được văn bản thông báo về việc kê biên tài sản thi hành án; d) Nhận được văn bản của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc của Ủy ban nhân dân cấp huyện hoặc của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc đã thụ lý đơn yêu cầu hòa giải tranh chấp đất đai hoặc đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất; đ) Nhận được văn bản của Tòa án nhân dân có thẩm quyền về việc đã thụ lý đơn đề nghị giải quyết tranh chấp đất đai, tài sản gắn liền với đất; e) Nhận được văn bản của Trọng tài Thương mại Việt Nam về việc thụ lý đơn giải quyết tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại liên quan đến đất đai, tài sản gắn liền với đất; g) Nhận được văn bản yêu cầu dừng thực hiện thủ tục hành chính về đất đai để áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cơ quan có thẩm quyền; h) Trường hợp đăng ký biến động đất đai do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất mà quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất đang được thế chấp và đã đăng ký tại Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai nhưng hồ sơ đăng ký nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho không có văn bản của bên nhận thế chấp về việc đồng ý cho bên thế chấp được chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất; i) Trường hợp chủ đầu tư đã thế chấp và đăng ký thế chấp dự án đầu tư xây dựng nhà ở hoặc nhà ở hình thành trong tương lai, dự án đầu tư xây dựng công trình không phải là nhà ở, dự án đầu tư nông nghiệp, dự án phát triển rừng, dự án khác có sử dụng đất hoặc công trình xây dựng thuộc các dự án này tại Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai mà chủ đầu tư chuyển nhượng quyền sử dụng đất, bán tài sản gắn liền với đất nhưng chưa thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi để rút bớt tài sản thế chấp là tài sản đã chuyển nhượng, đã bán, trừ trường hợp bên nhận thế chấp và bên mua tài sản có thỏa thuận về việc tiếp tục dùng tài sản này làm tài sản thế chấp và thực hiện đăng ký thay đổi bên bảo đảm theo quy định của pháp luật về đăng ký biện pháp bảo đảm. 3. Đối với các trường hợp quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều này mà quá thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật hoặc nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền về việc đã giải quyết xong tranh chấp đất đai hoặc văn bản hủy bỏ việc dừng, tạm dừng thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, kê biên tài sản thì cơ quan tiếp nhận, cơ quan giải quyết thủ tục tiếp tục thực hiện việc đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật. 4. Đối với trường hợp đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng trong dự án bất động sản thì Văn phòng đăng ký đất đai, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai chịu trách nhiệm kiểm tra tính đầy đủ của thành phần hồ sơ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 41 của Nghị định này và không chịu trách nhiệm về điều kiện chuyển quyền sử dụng đất, bán nhà ở, bán công trình, hạng mục công trình xây dựng theo quy định của pháp luật về nhà ở, pháp luật về xây dựng và pháp luật về kinh doanh bất động sản.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.