Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 27/2023/QH15

Điều 20. Quyền của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài

Căn cứ: Điều 20, 27/2023/QH15 — Luật Nhà ở số 27/2023/QH15

Tóm tắt

Điều 20 quy định quyền của tổ chức, cá nhân nước ngoài khi là chủ sở hữu nhà ở tại Việt Nam. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện quyền theo Điều 10, nhưng nếu xây nhà trên đất thuê thì chỉ được cho thuê. Tổ chức, cá nhân nước ngoài khác có quyền như công dân Việt Nam nhưng bị giới hạn về thời hạn sở hữu, số lượng và cách xử lý khi hết hạn.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (điểm a khoản 1 Điều 17) có quyền theo Điều 10; nếu xây nhà trên đất thuê thì chỉ được cho thuê nhà ở.
  • ▸Tổ chức, cá nhân nước ngoài (điểm b, c khoản 1 Điều 17) có quyền như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ giới hạn tại Điều 19 về số lượng và được cấp Giấy chứng nhận.
  • ▸Nếu được tặng cho, thừa kế nhà ở không thuộc trường hợp được sở hữu hoặc vượt số lượng hoặc thuộc khu vực quốc phòng, an ninh thì chỉ được hưởng giá trị nhà ở.
  • ▸Cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở tối đa 50 năm, được gia hạn một lần không quá 50 năm; thời hạn ghi rõ trong Giấy chứng nhận.
  • ▸Tổ chức nước ngoài được sở hữu theo thời hạn ghi trong giấy chứng nhận đầu tư, kể cả thời gian gia hạn; thời hạn tính từ ngày được cấp Giấy chứng nhận.
  • ▸Trước khi hết hạn, chủ sở hữu có thể tặng cho hoặc bán nhà ở cho đối tượng được sở hữu tại Việt Nam; quá hạn không bán, tặng cho thì nhà ở thuộc tài sản công.
  • ▸Cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam hoặc với người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép nhập cảnh thì có quyền như công dân Việt Nam hoặc như người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tưởng mọi tổ chức, cá nhân nước ngoài đều có quyền sở hữu nhà ở không giới hạn; thực tế có giới hạn về số lượng và thời hạn.
  • Nhầm thời hạn sở hữu của cá nhân nước ngoài là 50 năm không gia hạn; thực tế được gia hạn một lần không quá 50 năm.
  • Nhầm trường hợp không được sở hữu nhà ở vẫn được giữ nhà; thực tế chỉ được hưởng giá trị nhà ở.

Giải thích

Điều 20 phân biệt hai nhóm chủ thể nước ngoài. Nhóm thứ nhất là tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài (điểm a khoản 1 Điều 17): được hưởng quyền của chủ sở hữu theo Điều 10, nhưng nếu nhà ở được xây dựng trên đất thuê thì chỉ được cho thuê, không được bán. Nhóm thứ hai gồm tổ chức, cá nhân nước ngoài (điểm b, c khoản 1 Điều 17): có quyền như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ giới hạn về số lượng nhà ở được sở hữu (theo Điều 19), về thời hạn sở hữu và cách xử lý khi hết hạn. Cá nhân nước ngoài chỉ được sở hữu tối đa 50 năm kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và có thể gia hạn một lần không quá 50 năm. Tổ chức nước ngoài chỉ được sở hữu trong thời hạn ghi trong giấy chứng nhận đầu tư. Khi hết hạn, nếu không bán hoặc tặng cho cho người được phép sở hữu tại Việt Nam thì nhà ở thuộc tài sản công. Ngoài ra, nếu cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam thì có quyền như công dân Việt Nam.
Nguyên văn Điều 20. Quyền của chủ sở hữu nhà ở là tổ chức, cá nhân nước ngoài
1. Tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài quy định tại điểm a khoản 1 Điều 17 của Luật này được thực hiện quyền của chủ sở hữu nhà ở theo quy định tại Điều 10 của Luật này; trường hợp xây dựng nhà ở trên đất thuê thì chỉ được quy ền cho thuê nhà ở. 2. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 17 của Luật này có quyền của chủ sở hữu đối với nhà ở như công dân Việt Nam nhưng phải tuân thủ các quy định sau đây: a) Chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu nhà ở theo đúng số lượng quy định tại Điều 19 c ủa Luật này và được cấp Giấy chứng nhận đối với nhà ở đó; b) Trường hợp tổ chức, cá nhân nước ngoài được tặng cho, được thừa kế nhà ở không thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 17 của Luật này hoặc vượt quá số lượng nhà ở quy định tại Điều 19 của Luật này hoặc thuộc khu vực cầ n bảo đảm quốc phòng, an ninh quy định tại Điều 16 của Luật này thì chỉ được hưởng giá trị của nhà ở; c) Đối với cá nhân nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong giao dịch mua bán, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở nhưng không quá 50 năm, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận và được gia hạn một lần với thời hạn không quá 50 năm n ếu có nhu cầu; thời hạn sở hữu nhà ở phải được ghi rõ trong Giấy chứng nhận. Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với công dân Việt Nam đang sinh sống tại Việt Nam thì được sở hữu nhà ở và có quyền của chủ sở hữu nhà ở như công dân Việt Nam. Trường hợp cá nhân nước ngoài kết hôn với người Việt Nam định cư ở nước ngoài được phép nhập cả nh vào Việt Nam thì được sở hữu nhà ở và có quyền của chủ sở hữu nhà ở như người Việt Nam định cư ở nước ngoài; d) Đối với tổ chức nước ngoài thì được sở hữu nhà ở theo thỏa thuận trong giao dịch mua bán, thuê mua, tặng cho, nhận thừa kế nhà ở nhưng không quá thời hạn ghi trong giấy chứng nhận đầu tư cấp cho tổ chức đó, bao gồm c ả thời gian được gia hạn; thời hạn sở hữu nhà ở được tính từ ngày tổ chức được cấp Giấy chứng nhận và được ghi rõ trong Giấy chứng nhận này; 20 CÔNG BÁO/Số 37 + 38/Ngày 08-01-2024 đ) Trước khi hết thời hạn sở hữu nhà ở theo quy định của Luật này, chủ sở hữu có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thực hiện quyền tặng cho hoặc bán nhà ở này cho đối tượng thuộc trường hợp được sở hữu nhà ở tại Việt Nam; nếu quá thời hạn được sở hữu nhà ở mà chủ sở hữu không bán, t ặng cho thì nhà ở đó thuộc tài sản công. Trường hợp bên được tặng cho, mua nhà ở là đối tượng quy định tại điểm a và điểm b khoản 1 Điều 8 của Luật này thì có quyền quy định tại khoản 1 Điều 10 của Luật này.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.