Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 27/2023/QH15

Điều 19. Số lượng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu tại Việt Nam

Căn cứ: Điều 19, 27/2023/QH15 — Luật Nhà ở số 27/2023/QH15

Tóm tắt

Điều 19 giới hạn số lượng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu. Cụ thể, họ chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư; đối với nhà ở riêng lẻ (biệt thự, liền kề) thì trên một khu vực có quy mô dân số tương đương một phường chỉ được sở hữu không quá 250 căn nhà. Trường hợp có nhiều nhà chung cư hoặc nhiều nhà ở riêng lẻ trên một tuyến phố thì áp dụng cùng giới hạn.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 17 chỉ được sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư.
  • ▸Đối với nhà ở riêng lẻ (biệt thự, liền kề), trên một khu vực có quy mô dân số tương đương một phường chỉ được sở hữu không quá 250 căn nhà.
  • ▸Trường hợp trong một khu vực có số dân tương đương một phường có nhiều nhà chung cư hoặc đối với nhà ở riêng lẻ trên một tuyến phố thì áp dụng cùng giới hạn.
  • ▸Chính phủ quy định yêu cầu về khu vực cần bảo đảm quốc phòng, an ninh, tiêu chí quy đổi quy mô dân số, số lượng nhà ở, gia hạn thời hạn sở hữu và quản lý, sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn: giới hạn 30% áp dụng cho một tòa nhà chung cư, không phải cho toàn dự án.
  • Giới hạn 250 căn nhà áp dụng cho nhà ở riêng lẻ trên một khu vực có quy mô dân số tương đương một phường, không phải trên toàn quốc.

Giải thích

Điều 19 quy định số lượng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu tại Việt Nam. Theo khoản 1, tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và điểm c khoản 1 Điều 17 chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư. Nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có quy mô về dân số tương đương một phường chỉ được sở hữu không quá 250 căn nhà. Khoản 2 quy định trường hợp trong một khu vực có số dân tương đương một phường mà có nhiều nhà chung cư hoặc đối với nhà ở riêng lẻ trên một tuyến phố thì tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu không quá số lượng căn hộ, số lượng nhà ở riêng lẻ quy định tại khoản 1. Khoản 3 giao Chính phủ quy định chi tiết một số nội dung liên quan.
Nguyên văn Điều 19. Số lượng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu tại
Việt Nam 1. Tổ chức, cá nhân nước ngoài quy định tại điểm b và đi ểm c khoản 1 Điều 17 của Luật này chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 30% số lượng căn hộ trong một tòa nhà chung cư, nếu là nhà ở riêng lẻ bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề thì trên một khu vực có quy mô về dân số tương đương một phường chỉ được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá 250 căn nhà. 2. Trường hợp trong một khu vực có số dân tương đương một phường mà có nhiều nhà chung cư hoặc đối với nhà ở riêng lẻ trên một tuyến phố thì tổ chức, cá nhân nước ngoài được mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế và sở hữu không quá số lượng căn hộ, số lượng nhà ở riêng lẻ quy định tại khoản 1 Điều này. 3. Chính phủ quy định yêu cầu về khu vực c ần bảo đảm quốc phòng, an ninh, tiêu chí quy đổi quy mô về dân số tương đương một phường, số lượng nhà ở mà tổ chức, cá nhân nước ngoài được sở hữu, việc gia hạn thời hạn sở hữu nhà ở và việc quản lý, sở hữu nhà ở của tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.