Bài học
07/2017/QH14
Điều 20. Thực hiện thẩm định hoặc lấy ý kiến về công nghệ dự án đầu tư
Căn cứ: Điều 20, 07/2017/QH14 — Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14
Tóm tắt
Điều 20 quy định việc thẩm định hoặc lấy ý kiến về công nghệ dự án đầu tư, các hình thức tham vấn chuyên môn, nguyên tắc hoạt động và trách nhiệm của hội đồng tư vấn, thành viên hội đồng, cùng nguồn kinh phí thực hiện.
Ý chính cần nhớ
- ▸Cơ quan có thẩm quyền thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ dự án đầu tư thực hiện thẩm định hoặc có ý kiến; nếu cần tham vấn chuyên môn thì thực hiện qua hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ hoặc lấy ý kiến tổ chức, chuyên gia tư vấn độc lập.
- ▸Hội đồng tư vấn do cơ quan chủ trì có ý kiến về công nghệ quyết định thành lập.
- ▸Hội đồng làm việc theo nguyên tắc dân chủ, khách quan, trung thực, tuân thủ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp.
- ▸Hội đồng chịu trách nhiệm về kết luận và kiến nghị trước cơ quan thành lập hội đồng; kết luận và kiến nghị phải được lập thành văn bản.
- ▸Thành viên hội đồng chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến của mình và giữ bí mật thông tin liên quan đến dự án đầu tư; ý kiến phải được lập thành văn bản.
- ▸Kinh phí tổ chức lấy ý kiến về công nghệ trong dự án đầu tư: giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư được bảo đảm bằng ngân sách nhà nước; giai đoạn quyết định đầu tư do chủ đầu tư chịu trách nhiệm và được tính trong tổng mức đầu tư.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm lẫn giữa hai giai đoạn: quyết định chủ trương đầu tư dùng ngân sách nhà nước, quyết định đầu tư do chủ đầu tư chịu trách nhiệm.
- Cho rằng hội đồng tư vấn thành lập bởi cơ quan nhà nước về khoa học và công nghệ, thực tế do cơ quan chủ trì có ý kiến về công nghệ quyết định thành lập.
- Tưởng rằng thành viên hội đồng chỉ chịu trách nhiệm tập thể, thực tế mỗi thành viên chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến của mình.
Giải thích
Điều 20 Luật Chuyển giao công nghệ số 07/2017/QH14 quy định về thẩm định hoặc lấy ý kiến công nghệ trong dự án đầu tư. Theo khoản 1, cơ quan có thẩm quyền thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ dự án đầu tư tự thực hiện; nếu cần tham vấn chuyên môn thì có thể thành lập hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ hoặc lấy ý kiến tổ chức, chuyên gia tư vấn độc lập. Khoản 2 quy định hội đồng tư vấn do cơ quan chủ trì có ý kiến về công nghệ quyết định thành lập, làm việc theo nguyên tắc dân chủ, khách quan, trung thực, tuân thủ pháp luật và đạo đức nghề nghiệp; hội đồng chịu trách nhiệm về kết luận, kiến nghị trước cơ quan thành lập và phải lập thành văn bản. Khoản 3 nêu thành viên hội đồng chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến của mình, giữ bí mật thông tin dự án và ý kiến phải được lập thành văn bản. Khoản 4 quy định kinh phí: giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư do ngân sách nhà nước bảo đảm; giai đoạn quyết định đầu tư do chủ đầu tư chịu trách nhiệm và tính vào tổng mức đầu tư.
Nguyên văn Điều 20. Thực hiện thẩm định hoặc lấy ý kiến về công nghệ dự án đầu tư
1. Cơ quan có thẩm quyền thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ dự án đầu tư
thực hiện thẩm định hoặc có ý kiến về công nghệ dự
án đầu tư; trường hợp cần
tham vấn chuyên môn thì thực hiện thông qua các hình thức sau đây:
a) Hội đồng tư vấn khoa học và công nghệ;
b) Lấy ý kiến tổ chức, chuyên gia tư vấn độc lập.
2. Hội đồng tư vấn do cơ quan chủ trì có ý kiến về công nghệ quyết định thành
lập. Hội đồng làm việc theo nguyên tắc dân chủ, khách quan, trung thực, tuân thủ
pháp luật và đạo đức nghề nghiệp. Hội đồng tư vấn chịu trách nhiệm về kết luận và
kiế
n nghị trước cơ quan thành lập hội đồng. Kết luận và kiến nghị của hội đồng
phải được lập thành văn bản.
3. Thành viên hội đồng tư vấn chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến của
mình và giữ bí mật thông tin liên quan đến dự án đầu tư. Ý kiến của các thành viên
hội đồng phải được lập thành văn bản.
4. Kinh phí tổ chức lấy ý kiế
n về công nghệ trong dự án đầu tư được thực hiện
như sau:
a) Trong giai đoạn quyết định chủ trương đầu tư được bảo đảm bằng ngân sách
nhà nước;
b) Trong giai đoạn quyết định đầu tư do chủ đầu tư chịu trách nhiệm và được
tính trong tổng mức đầu tư.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.