Bài học
61/2024/QH15
Điều 21. Điều tra cơ bản về tài nguyên điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới
Căn cứ: Điều 21, 61/2024/QH15 — Luật Điện lực số 61/2024/QH15
Tóm tắt
Điều 21 quy định phạm vi điều tra cơ bản về tài nguyên điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới trên lãnh thổ Việt Nam; trách nhiệm tổ chức thực hiện của các cơ quan, đơn vị; nguồn kinh phí và việc quản lý, công bố, chia sẻ thông tin.
Ý chính cần nhớ
- ▸Phạm vi điều tra gồm 6 nhóm tài nguyên: điện mặt trời, gió, địa nhiệt; sóng biển, thủy triều và các dạng khác từ đại dương; chất thải rắn sinh hoạt và đô thị; sinh khối; chất thải sản xuất, kinh doanh (trừ chất thải rắn sinh hoạt, đô thị); thủy điện.
- ▸Trách nhiệm: vùng biển theo pháp luật về biển, tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; thủy điện theo pháp luật về tài nguyên nước; UBND cấp tỉnh chủ trì trên đất liền, hải đảo thuộc địa giới hành chính; Bộ Tài nguyên và Môi trường giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tại khu vực biển nhất định.
- ▸Nhà nước khuyến khích, huy động nguồn tài chính hợp pháp và đóng góp khoa học, kỹ thuật của tổ chức, cá nhân.
- ▸Thông tin, dữ liệu điều tra là đầu vào để lập quy hoạch phát triển điện lực, quy hoạch tỉnh; Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp thông tin toàn quốc.
- ▸Bộ Tài nguyên và Môi trường, UBND cấp tỉnh quản lý, công bố, chia sẻ thông tin theo quy định.
- ▸Kinh phí từ ngân sách nhà nước; kinh phí của doanh nghiệp 100% vốn nhà nước; kinh phí tài trợ tự nguyện.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm lẫn giữa tài nguyên điện từ chất thải rắn sinh hoạt, đô thị (điểm c) và tài nguyên điện từ chất thải của quá trình sản xuất, kinh doanh (điểm đ).
- Nhầm trách nhiệm điều tra trên đất liền, hải đảo: UBND cấp tỉnh chủ trì, trừ trường hợp Bộ Tài nguyên và Môi trường giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tại khu vực biển nhất định.
Giải thích
Điều 21 Luật Điện lực số 61/2024/QH15 quy định việc điều tra cơ bản tài nguyên điện năng lượng tái tạo, điện năng lượng mới. Phạm vi điều tra bao gồm: điện mặt trời, điện gió, điện địa nhiệt; điện sóng biển, điện thủy triều và các dạng tài nguyên điện khác từ năng lượng đại dương; điện từ chất thải rắn sinh hoạt và đô thị; điện từ sinh khối; điện từ chất thải của quá trình sản xuất, kinh doanh ngoài đối tượng tại điểm c; và tài nguyên thủy điện. Trách nhiệm thực hiện được phân công: vùng biển theo pháp luật về biển, tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; thủy điện theo pháp luật về tài nguyên nước; UBND cấp tỉnh chủ trì trên đất liền, hải đảo thuộc địa giới hành chính; Bộ Tài nguyên và Môi trường giao doanh nghiệp 100% vốn nhà nước hoặc đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện tại khu vực biển nhất định. Nhà nước khuyến khích huy động nguồn tài chính và đóng góp khoa học, kỹ thuật. Kinh phí từ ngân sách nhà nước, doanh nghiệp 100% vốn nhà nước và tài trợ tự nguyện. Thông tin điều tra là đầu vào lập quy hoạch; Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp toàn quốc và cùng UBND cấp tỉnh quản lý, công bố, chia sẻ.
Nguyên văn Điều 21. Điều tra cơ bản về tài nguyên điện năng lượng tái tạo, điện năng
lượng mới
1. Phạm vi điều tra cơ bản về tài nguyên điện năng lượng tái tạo, điện năng
lượng mới trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm:
a) Tài nguyên điện mặt trời, điện gió, điện địa nhiệt;
b) Tài nguyên điện sóng biển, điện thủy triều và các dạng tài nguyên điện khác
từ năng lượng đại dương;
c) Tài nguyên điện từ chất thải rắn sinh hoạt và đô thị;
d) Tài nguyên điện từ sinh khối;
đ) Tài nguyên điện từ chất thải của quá trình sản xuất, kinh doanh ngoài đối
tượng quy định tại điểm c khoản này;
e) Tài nguyên thủy điện.
2. Trách nhiệm tổ chức thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên về điện năng
lượng tái tạo, điện năng lượng mới được quy định như sau:
a) Thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên về điện năng
lượng tái tạo, điện năng lượng mới trên vùng biển Việt Nam thực hiện theo quy định
của pháp luật về biển, pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo;
b) Thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện điều tra cơ bản về tài nguyên thủy điện
thực hiện theo pháp luật về tài nguyên nước;
c) Trừ trường hợp quy định tại điểm d khoản này, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ
trì tổ chức thực hiện điều tra cơ bản tài nguyên điện năng lượng tái tạo, điện năng
lượng mới trên đất liền, trên hải đảo thuộc phạm vi quản lý địa giới hành chính;
d) Bộ Tài nguyên và Môi trường giao doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ
100% vốn điều lệ thực hiện, đơn vị sự nghiệp công lập có chức năng thực hiện
công tác điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo chủ trì thực hiện
tại khu vực biển nhất định thuộc vùng biển Việt Nam.
3. Nhà nước khuyến khích, huy động nguồn tài chính hợp pháp và đóng góp về
khoa học, kỹ thuật của tổ chức, cá nhân phục vụ công tác điều tra cơ bản.
4. Thông tin, dữ liệu quy định tại khoản 1 Điều này là đầu vào để cơ quan tổ
chức lập quy hoạch và đơn vị tư vấn lập quy hoạch sử dụng phục vụ việc lập quy
hoạch phát triển điện lực, quy hoạch tỉnh. Trường hợp khu vực chưa có thông tin,
dữ liệu quy định tại khoản này, tổ chức lập quy hoạch có trách nhiệm thu thập dữ
liệu tin cậy, phù hợp để thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Bộ Tài
nguyên và Môi trường tổng hợp thông tin, dữ liệu trên toàn quốc quy định tại
khoản 1 Điều này.
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quản lý, công bố,
chia sẻ thông tin về điều tra cơ bản tài nguyên điện năng lượng tái tạo, điện năng
lượng mới theo quy định của pháp luật.
44 CÔNG BÁO/Số 1531 + 1532/Ngày 30-12-2024
6. Kinh phí thực hiện điều tra cơ bản quy định tại khoản 1 Điều này được bố trí
từ các nguồn sau đây:
a) Ngân sách nhà nước;
b) Kinh phí của doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ chịu
trách nhiệm thu xếp từ chi phí hoạt động sản xuất, kinh doanh và các nguồn vốn
hợp pháp khác;
c) Kinh phí của tổ chức, cá nhân tự nguyện tài trợ cho công tác điều tra cơ bản.
7. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết về phạm vi điều
tra cơ bản quy định tại khoản 1 Điều này, trừ các nội dung thực hiện theo pháp luật
về tài nguyên nước, pháp luật về tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.