Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 23/2018/QH14

Điều 23. Bãi bỏ quyết định hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm

Căn cứ: Điều 23, 23/2018/QH14 — Luật Cạnh tranh số 23/2018/QH14

Tóm tắt

Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia bãi bỏ quyết định hưởng miễn trừ khi: điều kiện không còn; có gian dối; vi phạm điều kiện, nghĩa vụ; hoặc dựa trên thông tin, tài liệu không chính xác. Khi điều kiện không còn, bên được hưởng miễn trừ phải thông báo. Quyết định bãi bỏ phải gửi trong 07 ngày làm việc.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Các trường hợp bãi bỏ: điều kiện không còn; gian dối; vi phạm điều kiện, nghĩa vụ; thông tin, tài liệu không chính xác.
  • ▸Khi điều kiện không còn, bên được hưởng miễn trừ có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.
  • ▸Quyết định bãi bỏ phải được gửi cho các bên trong 07 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa thông báo của doanh nghiệp và quyết định bãi bỏ của Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia.
  • Bỏ sót trường hợp bãi bỏ do thông tin, tài liệu không chính xác.

Giải thích

Điều 23 quy định về việc bãi bỏ quyết định hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định bãi bỏ trong các trường hợp: điều kiện được hưởng miễn trừ không còn; phát hiện có sự gian dối trong việc đề nghị hưởng miễn trừ; doanh nghiệp được hưởng miễn trừ vi phạm các điều kiện, nghĩa vụ để được hưởng miễn trừ trong quyết định; quyết định dựa trên thông tin, tài liệu không chính xác về điều kiện được hưởng miễn trừ. Khi điều kiện không còn, bên được hưởng miễn trừ có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để ra quyết định bãi bỏ. Quyết định bãi bỏ phải được gửi cho các bên trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.
Nguyên văn Điều 23. Bãi bỏ quyết định hưởng miễn trừ đối với thỏa thuận hạn chế
cạnh tranh bị cấm 1. Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia quyết định bãi bỏ quyết định hưởng miễn trừ trong các trường hợp sau đây: a) Điều kiện được hưởng miễn trừ không còn; b) Phát hiện có sự gian dối trong việc đề nghị hưởng miễn trừ; c) Doanh nghiệp được hưởng miễn trừ vi phạm các điều kiện, nghĩa vụ để được hưởng miễn trừ trong quyết định h ưởng miễn trừ; d) Quyết định hưởng miễn trừ dựa trên thông tin, tài liệu không chính xác về điều kiện được hưởng miễn trừ. 2. Trường hợp điều kiện được hưởng miễn trừ không còn, bên được hưởng miễn trừ có trách nhiệm thông báo cho Ủy ban Cạnh tranh Quốc gia để ra quyết định bãi bỏ quyết định hưởng miễn trừ. 3. Quyết định bãi bỏ quyết đị nh hưởng miễn trừ phải được gửi cho các bên tham gia thỏa thuận trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.