Điều 23. Nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công trình xây dựng
Căn cứ: Điều 23, 207/2026/NĐ-CP — Nghị định 207/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý chất Iượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng
Tóm tắt
Điều 23 Nghị định 207/2026/NĐ-CP quy định về nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công trình xây dựng. Nội dung chính gồm các trường hợp phải thực hiện nghiệm thu theo thỏa thuận, cơ sở để nghiệm thu và quyền tự thỏa thuận của chủ đầu tư với các nhà thầu có liên quan về thời điểm, trình tự, nội dung, điều kiện và thành phần tham gia nghiệm thu. Kết quả nghiệm thu được xác nhận bằng biên bản.
Ý chính cần nhớ
- ▸Nghiệm thu giai đoạn thi công hoặc bộ phận công trình do chủ đầu tư và các nhà thầu có liên quan tự thỏa thuận.
- ▸Trường hợp nghiệm thu: kết thúc một giai đoạn thi công hoặc bộ phận công trình cần kiểm tra, nghiệm thu để đánh giá chất lượng trước khi chuyển sang giai đoạn tiếp theo.
- ▸Trường hợp nghiệm thu: kết thúc một gói thầu xây dựng.
- ▸Cơ sở nghiệm thu: xem xét kết quả các công việc đã được nghiệm thu theo Điều 22 Nghị định 207/2026/NĐ-CP; kết quả thí nghiệm, kiểm tra, kiểm định, thử nghiệm, chạy thử bảo đảm yêu cầu kỹ thuật theo thiết kế xây dựng và văn bản pháp lý liên quan.
- ▸Các bên tự thỏa thuận thời điểm, trình tự, nội dung, điều kiện nghiệm thu; thành phần tham gia nghiệm thu gồm giám sát trưởng và các thành phần khác do các bên thỏa thuận.
- ▸Kết quả nghiệm thu được xác nhận bằng biên bản.
Lưu ý dễ nhầm
- Dễ nhầm nghiệm thu giai đoạn/bộ phận công trình là do cơ quan nhà nước tổ chức; thực tế chủ đầu tư và nhà thầu có liên quan tự thỏa thuận.
- Dễ bỏ sót trường hợp kết thúc gói thầu xây dựng cũng thuộc phạm vi nghiệm thu theo Điều 23.
- Dễ nhầm thành phần tham gia nghiệm thu chỉ có giám sát trưởng; văn bản quy định gồm giám sát trưởng và các thành phần khác do các bên tự thỏa thuận.
Giải thích
Nguyên văn Điều 23. Nghiệm thu giai đoạn thi công xây dựng hoặc bộ phận công
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.