Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 99/2016/NĐ-CP

Điều 23. Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cấp giấy đăng ký hoạt động hoặc cấp giấy phép hoạt động hoặc công nhận hoạt động đối với cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước

Căn cứ: Điều 23, 99/2016/NĐ-CP — Nghị định 99/2016/NĐ-CP Về quản lý và sử dụng con dấu

Tóm tắt

Cơ quan có thẩm quyền khi ra quyết định thành lập, cấp giấy đăng ký/giấy phép/công nhận hoạt động và cho phép sử dụng con dấu phải tuân thủ pháp luật. Khi có quyết định chia tách, sáp nhập, giải thể... phải ghi rõ thời hạn giao nộp con dấu và gửi quyết định cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu. Đồng thời phối hợp với cơ quan đăng ký mẫu con dấu theo Điều 12 trong kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Khi ra quyết định thành lập hoặc cấp giấy đăng ký/giấy phép/công nhận hoạt động và cho phép sử dụng con dấu phải tuân thủ quy định pháp luật.
  • ▸Khi ra quyết định chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động, kết thúc nhiệm vụ; thay đổi tổ chức, đổi tên; thu hồi giấy đăng ký/giấy phép; tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động thì trong quyết định phải ghi rõ thời hạn phải giao nộp con dấu.
  • ▸Phải gửi quyết định cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu biết để thu hồi con dấu.
  • ▸Phối hợp với cơ quan đăng ký mẫu con dấu quy định tại Điều 12 Nghị định 99/2016/NĐ-CP trong kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm cơ quan có thẩm quyền được tự thu hồi con dấu mà không cần gửi quyết định cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu.
  • Nhầm quyết định chia tách, sáp nhập... không cần ghi thời hạn giao nộp con dấu.

Giải thích

Điều 23 quy định trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cấp giấy đăng ký hoạt động, giấy phép hoạt động, công nhận hoạt động đối với cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước. Khi ra quyết định và cho phép sử dụng con dấu, cơ quan phải tuân thủ quy định pháp luật. Khi ra các quyết định chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động, kết thúc nhiệm vụ; thay đổi tổ chức, đổi tên; thu hồi giấy đăng ký/giấy phép; tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động, trong quyết định phải ghi rõ thời hạn cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước phải giao nộp con dấu cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu, đồng thời gửi quyết định cho cơ quan này để thu hồi con dấu. Cơ quan có thẩm quyền còn phải phối hợp với cơ quan đăng ký mẫu con dấu quy định tại Điều 12 Nghị định 99/2016/NĐ-CP trong kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm về quản lý và sử dụng con dấu.
Nguyên văn Điều 23. Trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền quyết định thành lập hoặc cấp giấy đăng ký hoạt động hoặc cấp giấy phép hoạt động hoặc công nhận hoạt động đối với cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước
1. Cơ quan có thẩm quyền khi ra quyết định thành lập hoặc cấp giấy đăng ký hoạt động hoặc cấp giấy phép hoạt động hoặc công nhận hoạt động và cho phép sử dụng con dấu của cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước phải tuân thủ các quy định của pháp luật. 2. Cơ quan có thẩm quyền khi ra quyết định chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, giải thể, chấm dứt hoạt động, kết thúc nhiệm vụ; quyết định thay đổi về tổ chức, đổi tên; quyết định thu hồi giấy đăng ký hoạt động, giấy phép hoạt động; quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ hoạt động thì trong quyết định phải ghi rõ thời hạn cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước phải giao nộp con dấu cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu và đồng thời gửi quyết định cho cơ quan đã cấp giấy chứng nhận đăng ký mẫu con dấu biết để thu hồi con dấu theo quy định. 3. Phối hợp với cơ quan đăng ký mẫu con dấu quy định tại Điều 12 Nghị định này trong việc kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, xử lý vi phạm trong công tác quản lý và sử dụng con dấu.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.