Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 74/2025/QH15

Điều 24. Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia

Căn cứ: Điều 24, 74/2025/QH15 — Luật Việc làm số 74/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 24 Luật Việc làm số 74/2025/QH15 quy định chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia, lệ phí cấp/cấp lại, nguyên tắc đánh giá, nội dung đánh giá và giá trị của chứng chỉ khi có thừa nhận lẫn nhau giữa Việt Nam với các quốc gia khác.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để công nhận người lao động đủ khả năng thực hiện công việc đạt yêu cầu ở một bậc trình độ kỹ năng của một nghề trên cơ sở kết quả đánh giá của tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia.
  • ▸Người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ phải nộp lệ phí theo quy định, trừ trường hợp do lỗi của cơ quan có thẩm quyền.
  • ▸Đánh giá kỹ năng nghề quốc gia phải bảo đảm tự nguyện; căn cứ tiêu chuẩn; chính xác, độc lập, khách quan, công bằng, minh bạch.
  • ▸Nội dung đánh giá gồm kiến thức chuyên môn, kỹ thuật; kỹ năng thực hành; quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động; nội dung khác theo đặc thù nghề, công việc.
  • ▸Khi có thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ giữa Việt Nam với quốc gia khác thì chứng chỉ của quốc gia đó có giá trị tại Việt Nam và ngược lại.

Lưu ý dễ nhầm

  • Lệ phí cấp, cấp lại chứng chỉ vẫn phải nộp trừ trường hợp do lỗi của cơ quan có thẩm quyền, không phải miễn trong mọi trường hợp.
  • Nguyên tắc đánh giá gồm tự nguyện, căn cứ tiêu chuẩn, chính xác, độc lập, khách quan, công bằng, minh bạch; không chỉ có tự nguyện.

Giải thích

Điều 24 Luật Việc làm số 74/2025/QH15 quy định chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để công nhận một người lao động có đủ khả năng thực hiện công việc đạt yêu cầu ở một bậc trình độ kỹ năng của một nghề trên cơ sở kết quả đánh giá kỹ năng nghề của tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. Người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ phải nộp lệ phí theo quy định, trừ trường hợp do lỗi của cơ quan có thẩm quyền. Việc đánh giá phải tuân thủ nguyên tắc: bảo đảm tự nguyện của người lao động; căn cứ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; chính xác, độc lập, khách quan, công bằng, minh bạch. Nội dung đánh giá gồm kiến thức chuyên môn, kỹ thuật; kỹ năng thực hành; quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động; các nội dung khác theo đặc thù nghề, công việc. Nếu có thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ giữa Việt Nam và quốc gia khác thì chứng chỉ của quốc gia đó có giá trị tại Việt Nam và ngược lại.
Nguyên văn Điều 24. Đánh giá, cấp chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia
1. Chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia là văn bản do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp để công nhận một người lao động có đủ khả năng thực hiện công việc đạt yêu cầu ở một bậc trình độ kỹ năng của một nghề trên cơ sở kết quả đánh giá kỹ năng nghề của tổ chức đánh giá kỹ năng nghề quốc gia. 2. Người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia nộp lệ phí theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí, trừ trường hợp do lỗi của cơ quan có thẩm quyền. 3. Việc đánh giá kỹ năng nghề quốc gia phải tuân thủ các nguyên tắc sau đây: a) Bảo đảm sự tự nguyện của người lao động; b) Căn cứ tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia; c) Chính xác, độc lập, khách quan, công bằng, minh bạch. 4. Nội dung đánh giá kỹ năng nghề quốc gia bao gồm: a) Kiến thức chuyên môn, kỹ thuật; b) Kỹ năng thực hành; c) Quy trình an toàn lao động, vệ sinh lao động; d) Các nội dung khác theo đặc thù nghề, công việc. 5. Trường hợp có sự công nhận, thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia giữa Việt Nam với các quốc gia khác thì chứng chỉ kỹ năng nghề của quốc gia đó có giá trị tại Việt Nam và ngược lại. 6. Chính phủ quy định chi tiết Điều này; quy định thẩm quyền, điều kiện, hồ sơ, trình tự, thủ tục cấp, cấp lại, thu hồi chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia; việc công nhận, thừa nhận lẫn nhau về chứng chỉ kỹ năng nghề quốc gia giữa Việt Nam với các quốc gia khác.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.