Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 210/2026/NĐ-CP

Điều 24. Điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng

Căn cứ: Điều 24, 210/2026/NĐ-CP — Nghị định 210/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Xây dựng về hợp đồng xây dựng

Tóm tắt

Điều 24 quy định nguyên tắc điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng, phương pháp điều chỉnh, quy tắc xử lý khi khối lượng thực tế tăng hoặc giảm so với hợp đồng, khối lượng phát sinh và nguồn thông tin giá.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Các bên thỏa thuận các trường hợp điều chỉnh theo Luật Xây dựng; phương pháp phải phù hợp tính chất công việc, loại giá, đồng tiền thanh toán.
  • ▸Hợp đồng dự án đầu tư công, PPP: điều chỉnh theo quy định tại khoản 3 Điều 84 Luật Xây dựng và Điều 24 Nghị định 210/2026/NĐ-CP.
  • ▸Khối lượng thực tế tăng/giảm >20%, thay đổi >0,25% giá hợp đồng và >1% đơn giá: xác định đơn giá mới theo nguyên tắc hợp đồng.
  • ▸Tăng >20%: đơn giá mới áp dụng cho phần vượt quá 120% khối lượng hợp đồng. Giảm >20%: đơn giá mới áp dụng cho toàn bộ khối lượng thực tế được nghiệm thu.
  • ▸Tăng/giảm ≤20%: áp dụng đơn giá trong hợp đồng (kể cả đơn giá đã điều chỉnh nếu có).
  • ▸Khối lượng phát sinh chưa có đơn giá: thống nhất đơn giá mới theo nguyên tắc hợp đồng.
  • ▸Điều chỉnh bằng bù trừ trực tiếp hoặc hệ số Pn (có thể kết hợp); nguồn giá/chỉ số giá phải phù hợp và được quy định trong hợp đồng.
  • ▸Thanh toán giá trị điều chỉnh đã thỏa thuận không yêu cầu văn bản sửa đổi hợp đồng.

Lưu ý dễ nhầm

  • Dễ nhầm điều kiện điều chỉnh khối lượng: phải đồng thời thay đổi >0,25% giá hợp đồng và >1% đơn giá (đối với hợp đồng đầu tư công, PPP).
  • Dễ nhầm cách áp dụng đơn giá mới khi khối lượng giảm >20%: áp dụng cho toàn bộ khối lượng thực tế được nghiệm thu, không phải chỉ phần giảm.
  • Dễ tưởng mọi điều chỉnh giá đều phải ký văn bản sửa đổi hợp đồng; thực tế thanh toán giá trị điều chỉnh đã thỏa thuận không yêu cầu.

Giải thích

Điều 24 hướng dẫn điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng. Các bên được thỏa thuận về trường hợp điều chỉnh, nhưng phương pháp phải phù hợp với công việc, loại giá và đồng tiền thanh toán. Với hợp đồng thuộc dự án đầu tư công hoặc PPP, việc điều chỉnh còn theo khoản 3 Điều 84 Luật Xây dựng và các quy tắc cụ thể tại Điều 24. Điểm đáng chú ý là cách xử lý khối lượng thực tế: nếu tăng hoặc giảm hơn 20% khối lượng hợp đồng, đồng thời làm thay đổi trên 0,25% giá hợp đồng và 1% đơn giá thì các bên xác định đơn giá mới theo nguyên tắc đã thỏa thuận. Khi tăng hơn 20%, đơn giá mới chỉ áp dụng cho phần vượt quá 120% khối lượng hợp đồng; khi giảm hơn 20%, đơn giá mới áp dụng cho toàn bộ khối lượng thực tế hoàn thành được nghiệm thu. Trường hợp tăng/giảm không quá 20% thì vẫn dùng đơn giá trong hợp đồng, kể cả đơn giá đã điều chỉnh nếu có. Khối lượng phát sinh chưa có đơn giá thì xác định đơn giá mới theo nguyên tắc hợp đồng. Việc điều chỉnh được thực hiện bằng bù trừ trực tiếp hoặc hệ số Pn, có thể kết hợp. Nguồn giá, chỉ số giá phải phù hợp và được quy định trong hợp đồng; nếu nguồn do Bộ Xây dựng hoặc UBND cấp tỉnh công bố không phù hợp hoặc không có thì bên giao thầu xác định theo pháp luật về quản lý chi phí hoặc tham khảo nguồn khác có thẩm quyền. Cuối cùng, thanh toán giá trị điều chỉnh đã thỏa thuận không bắt buộc phải có văn bản sửa đổi hợp đồng.
Nguyên văn Điều 24. Điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng
1. Các bên tham gia hợp đồng thỏa thuận cụ thể về các trường hợp được điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng xây dựng theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 84 Luật Xây dựng. Phương pháp điều chỉnh đơn giá, giá hợp đồng xây dựng phải phù hợp với tính chất công việc, loại giá hợp đồng, đồng tiền thanh toán và do các bên thỏa thuận. 2. Đối với các hợp đồng xây dựng thuộc dự án đầu tư công, dự án PPP, ngoài quy định tại khoản 1 Điều này, việc điều chỉnh đơn giá các công việc của hợp đồng xây dựng và điều chỉnh giá hợp đồng được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 84 Luật Xây dựng và các quy định như sau: a) Việc điều chỉnh đơn giá các công việc của hợp đồng xây dựng áp dụng cho những khối lượng công việc mà tại thời điểm giao kết hợp đồng các bên có thỏa thuận được điều chỉnh đơn giá; b) Trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện tăng hoặc giảm lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng, đồng thời tác động làm thay đổi trên 0,25% giá hợp đồng và 1% đơn giá để thực hiện công việc đó, thì các bên thống nhất xác định đơn giá mới theo nguyên tắc đã thỏa thuận trong hợp đồng về đơn giá mới cho các khối lượng này để thanh toán. Đơn giá mới được áp dụng cho phần khối lượng thực tế thực hiện vượt quá 120% khối lượng ghi trong hợp đồng; trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện giảm lớn hơn 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng, đơn giá mới được áp dụng cho toàn bộ khối lượng công việc thực tế hoàn thành được nghiệm thu; c) Trường hợp khối lượng công việc thực tế thực hiện tăng hoặc giảm nhỏ hơn hoặc bằng 20% khối lượng công việc tương ứng ghi trong hợp đồng thì áp dụng đơn giá trong hợp đồng, kể cả đơn giá đã được điều chỉnh theo thỏa thuận của hợp đồng (nếu có) để thanh toán; d) Trường hợp khối lượng công việc phát sinh chưa có đơn giá trong hợp đồng thì các bên thống nhất xác định đơn giá mới theo nguyên tắc đã thỏa thuận trong hợp đồng về đơn giá cho các khối lượng công việc phát sinh chưa có trong hợp đồng để thanh toán; đ) Việc điều chỉnh đơn giá và giá hợp đồng được thực hiện bằng phương pháp bù trừ trực tiếp, phương pháp điều chỉnh bằng hệ số điều chỉnh giá (Pn) quy định tại Phụ lục kèm theo Nghị định này. Trong một hợp đồng xây dựng có thể sử dụng kết hợp các phương pháp bù trừ trực tiếp và phương pháp điều chỉnh bằng hệ số điều chỉnh giá (Pn). Pn có thể được áp dụng cả hợp đồng hoặc hạng mục công trình; nhóm, loại công tác hoặc các yếu tố chi phí; trường hợp không áp dụng cho cả hợp đồng, thì các bên phải thỏa thuận công thức để xác định Pn cho hạng mục công trình; nhóm, loại công tác hoặc các yếu tố chi phí cụ thể; e) Nguồn thông tin về giá hoặc nguồn chỉ số giá, phương pháp để điều chỉnh giá hợp đồng phải phù hợp với nội dung, tính chất công việc, cơ cấu chi phí, loại giá hợp đồng và phải được các bên thỏa thuận, quy định cụ thể trong hợp đồng. Trường hợp nguồn cơ sở dữ liệu, thông tin về giá, chỉ số giá xây dựng do Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh công bố không phù hợp hoặc không có, thì bên giao thầu tổ chức xác định giá, chỉ số giá xây dựng theo quy định của pháp luật về quản lý chi phí đầu tư xây dựng, hoặc tham khảo nguồn giá, chỉ số giá do Bộ Tài chính hoặc cơ quan, đơn vị khác có thẩm quyền ban hành, công bố. Đối với các khoản mục chi phí phát sinh tại nước ngoài, các bên có thể thỏa thuận sử dụng nguồn cơ sở dữ liệu, thông tin về giá, chỉ số giá được cơ quan, tổ chức có thẩm quyền nơi phát sinh chi phí ban hành, công bố; g) Việc quản lý và thanh toán giá trị điều chỉnh giá đã được các bên thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng không yêu cầu phải giao kết văn bản sửa đổi hợp đồng.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.