Nguyên văn Điều 24. Hiệu lực thi hành và quy định chuyển tiếp
1. Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 11 năm 2024.
2. Bãi bỏ Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21 tháng 11 năm 2013 của
Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã năm 2012.
3. Bãi bỏ Nghị định số 107/2017/NĐ-CP ngày 15 tháng 9 năm 2017 của Chính
phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 193/2013/NĐ-CP ngày 21
tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác
xã năm 2012.
4. Trong thời gian Hệ thống thông tin quốc gia về hợp tác xã chưa vận hành,
việc báo cáo, cung cấp, cập nhật theo quy định trên Hệ thống này được thực hiện
thông qua các hình thức văn bản giấy hoặc gửi thư điện tử.
5. Đối với hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã còn số dư Quỹ dự phòng rủi ro tín
dụng thì hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã được tiếp tục sử dụng số dư Quỹ này để
xử lý các khoản cho vay bị thất thoát do nguyên nhân khách quan từ hợp đồng tín
dụng nội bộ đã được ký trước ngày 01 tháng 9 năm 2023 (nếu có) hoặc xử lý theo
Nghị quyết của Đại hội thành viên.
6. Bãi bỏ các điều khoản sau: khoản 1 và 3 Điều 3, Điều 4 của Nghị định số
77/2019/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2019 của Chính phủ về tổ hợp tác.
7. Sửa đổi một số điều, khoản tại Nghị định số 77/2019/NĐ-CP ngày 10 tháng
10 năm 2019 về tổ hợp tác như sau:
a) Điều 5 Nghị định số 77/2019/NĐ-CP về quyền của tổ hợp tác được sửa đổi
như sau:
“1. Tổ hợp tác có các quyền theo quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và g khoản
3 Điều 107 Luật Hợp tác xã.
2. Tổ hợp tác được xem xét hưởng các chính sách hỗ trợ của Nhà nước về phát
triển tổ hợp tác theo quy định tại khoản 2, 3 Điều 18 Luật Hợp tác xã và khoản 2, 3
Điều 6 Nghị định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Chính phủ
quy định chi tiết một số điều của Luật Hợp tác xã.”;
b) Điều 6 Nghị định số 77/2019/NĐ-CP về nghĩa vụ của tổ hợp tác được sửa
đổi như sau:
“1. Tổ hợp tác có các nghĩa vụ theo quy định tại các điểm a, b và c khoản 4
Điều 107 Luật Hợp tác xã.
2. Thực hiện việc công khai thông tin sổ ghi chép về việc đóng góp của thành
viên và các thông tin khác theo quy định của hợp đồng hợp tác.
3. Thực hiện chế độ báo cáo, cập nhật thông tin về tình hình hoạt động của tổ
hợp tác theo quy định của pháp luật.”;
c) Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 77/2019/NĐ-CP về xử lý tài sản chung của
các thành viên tổ hợp tác, tài chính của tổ hợp tác khi chấm dứt hoạt động được
sửa đổi như sau:
40 CÔNG BÁO/Số 1059 + 1060/Ngày 25-9-2024
“3. Đối với các tài sản chung hình thành từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước hoặc
được tài trợ, tặng, cho hợp pháp bởi cá nhân, tổ chức khác mà theo yêu cầu của
Nhà nước hoặc bên tài trợ, tặng, cho, tổ hợp tác không có quyền định đoạt phần tài
sản này thì khi chấm dứt hoạt động, tổ hợp tác thực hiện như sau:
a) Bàn giao các tài sản chung hình thành từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước cho Ủy
ban nhân dân nơi cấp Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác để xử lý theo quy trình
xử lý quỹ chung không chia, tài sản chung không chia của hợp tác xã, liên hiệp
hợp tác xã có nguồn hình thành từ hỗ trợ của Nhà nước quy định tại Điều 21 Nghị
định số 113/2024/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều của Luật Hợp tác xã;
b) Trường hợp tổ hợp tác có tài sản chung hình thành từ nguồn hỗ trợ của Nhà
nước trước ngày Luật Hợp tác xã số 17/2023/QH15 có hiệu lực thi hành, tổ hợp tác
bàn giao các tài sản chung hình thành từ nguồn hỗ trợ của Nhà nước cho Ủy ban
nhân cấp huyện nơi có địa chỉ giao dịch của tổ hợp tác để xử lý theo quy trình xử
lý quỹ chung không chia, tài sản chung không chia của hợp tác xã, liên hiệp hợp
tác xã có nguồn hình thành từ hỗ trợ của Nhà nước quy định tại Điều 21 Nghị định
số 113/2024/NĐ-CP ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Chính phủ quy định chi tiết
một số điều của Luật Hợp tác xã;
c) Tài sản chung được tài trợ, tặng, cho hợp pháp bởi cá nhân, tổ chức khác
được xử lý theo thỏa thuận giữa cá nhân, tổ chức tài trợ, tặng, cho với tổ hợp tác.”;
d) Điều 24 Nghị định số 77/2019/NĐ-CP về phần đóng góp của thành viên tổ
hợp tác được sửa đổi như sau:
“1. Phần đóng góp của một thành viên tổ hợp tác gồm phần vốn góp theo quy
định tại khoản 12 Điều 4 Luật Hợp tác xã và mức độ góp sức lao động theo quy
định tại khoản 10 Điều 4 Luật Hợp tác xã của thành viên đó đã đóng góp hoặc cam
kết đóng góp vào tổ hợp tác.
2. Việc xác định phần vốn góp và mức độ góp sức lao động của thành viên tổ
hợp tác góp vào tổ hợp tác do các thành viên tổ hợp tác tự thỏa thuận hoặc do bên
thứ ba xác định theo sự ủy quyền của 100% tổng số thành viên tổ hợp tác.
3. Trường hợp thành viên tổ hợp tác cam kết đóng góp không góp đủ và không
đúng hạn phần đóng góp đã cam kết thì xử lý theo quy định tại hợp đồng hợp tác
và quy định của pháp luật dân sự.”;
đ) Khoản 6 Điều 29 Nghị định số 77/2019/NĐ-CP về chế độ báo cáo định kỳ
và quản lý nhà nước về tổ hợp tác được sửa đổi như sau:
“6. Tổ hợp tác đã đăng ký tại cơ quan đăng ký kinh doanh thì không thực hiện
chế độ báo cáo đến Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định tại khoản 1 Điều này.”.