Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 35/2026/NĐ-CP

Điều 26. Điều khoản chuyển tiếp về chương trình phát triển đô thị

Căn cứ: Điều 26, 35/2026/NĐ-CP — Nghị định 35/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Nghị quyết về phân loại đô thị

Tóm tắt

Điều 26 quy định việc xử lý chuyển tiếp đối với các chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt trước ngày Nghị định 35/2026/NĐ-CP có hiệu lực. Các tỉnh, thành phố thuộc diện sắp xếp và không thuộc diện sắp xếp đều có trách nhiệm lập, phê duyệt chương trình phát triển đô thị áp dụng cho toàn tỉnh, thành phố trong thời hạn tối đa 12 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực. Việc xây dựng mới hoặc điều chỉnh chương trình, kế hoạch phát triển đô thị được áp dụng theo các giai đoạn cụ thể đến năm 2030 và từ năm 2031 trở đi.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Tỉnh, thành phố thuộc diện sắp xếp: chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt tiếp tục thực hiện đến khi có chương trình mới; trong tối đa 12 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực, UBND cấp tỉnh sau sắp xếp phải lập và phê duyệt chương trình áp dụng cho toàn tỉnh, thành phố.
  • ▸Tỉnh, thành phố không thuộc diện sắp xếp đã có chương trình phát triển đô thị được phê duyệt: tiếp tục thực hiện đến khi có chương trình mới; trong tối đa 12 tháng, UBND cấp tỉnh phải lập mới hoặc điều chỉnh và phê duyệt chương trình áp dụng cho toàn tỉnh, thành phố.
  • ▸Chương trình phát triển đô thị của thành phố, thị xã thuộc tỉnh và thị trấn đã được phê duyệt trước ngày Nghị định có hiệu lực thì tiếp tục thực hiện đến khi có chương trình áp dụng cho toàn tỉnh, thành phố.
  • ▸Xây dựng mới hoặc điều chỉnh chương trình phát triển đô thị theo Nghị định này áp dụng cho giai đoạn từ năm 2021 đến hết năm 2030; từ năm 2031 thực hiện xây dựng mới cho giai đoạn 10 năm.
  • ▸Xây dựng kế hoạch phát triển đô thị theo Nghị định này áp dụng cho giai đoạn từ năm 2026 đến hết năm 2030; từ năm 2031 thực hiện theo nội dung chương trình cho giai đoạn mới.
  • ▸Trường hợp loại đô thị đã được công nhận trước ngày Nghị định có hiệu lực mà có sự thay đổi theo Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15 và Nghị định này thì các nội dung về phát triển nhà ở, kinh doanh bất động sản đang thực hiện theo văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, quyết định đã có được tiếp tục thực hiện.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn 12 tháng áp dụng cho tất cả các trường hợp, trong khi Điều 26 chỉ quy định thời hạn này cho UBND cấp tỉnh thuộc diện sắp xếp và không thuộc diện sắp xếp đã có chương trình phát triển đô thị được phê duyệt.
  • Nhầm giai đoạn áp dụng của chương trình phát triển đô thị (2021-2030) với giai đoạn áp dụng của kế hoạch phát triển đô thị (2026-2030).
  • Cho rằng mọi chương trình phát triển đô thị cũ đều phải dừng ngay khi Nghị định có hiệu lực, trong khi Điều 26 cho phép tiếp tục thực hiện đến khi có chương trình mới.

Giải thích

Điều 26 Nghị định 35/2026/NĐ-CP quy định điều khoản chuyển tiếp nhằm bảo đảm không gián đoạn hoạt động phát triển đô thị khi Nghị định có hiệu lực. Đối với tỉnh, thành phố thuộc diện sắp xếp, chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt vẫn tiếp tục thực hiện, nhưng UBND cấp tỉnh sau sắp xếp phải lập và phê duyệt chương trình áp dụng cho toàn tỉnh, thành phố trong tối đa 12 tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực. Trường hợp có tỉnh, thành phố đã có và chưa có chương trình được phê duyệt thì chương trình đã có tiếp tục thực hiện và vẫn phải lập, phê duyệt chương trình chung trong 12 tháng. Đối với tỉnh, thành phố không thuộc diện sắp xếp đã có chương trình được phê duyệt, tiếp tục thực hiện đến khi có chương trình mới; UBND cấp tỉnh có trách nhiệm lập mới hoặc điều chỉnh và phê duyệt trong 12 tháng. Các chương trình của thành phố, thị xã thuộc tỉnh và thị trấn đã phê duyệt trước ngày Nghị định có hiệu lực cũng tiếp tục thực hiện đến khi có chương trình toàn tỉnh, thành phố. Về thời kỳ áp dụng, chương trình phát triển đô thị được xây dựng mới hoặc điều chỉnh cho giai đoạn 2021-2030; từ 2031 xây dựng mới cho giai đoạn 10 năm. Kế hoạch phát triển đô thị áp dụng cho giai đoạn 2026-2030; từ 2031 thực hiện theo nội dung chương trình giai đoạn mới. Ngoài ra, các nội dung phát triển nhà ở, kinh doanh bất động sản liên quan đến loại đô thị đã được công nhận trước ngày Nghị định có hiệu lực mà có thay đổi theo Nghị quyết 111/2025/UBTVQH15 và Nghị định này thì tiếp tục thực hiện theo văn bản chấp thuận, quyết định đã có.
Nguyên văn Điều 26. Điều khoản chuyển tiếp
1. Đối với các tỉnh, thành phố thuộc diện sắp xếp thì việc xây dựng chương trình phát triển đô thị được quy định như sau: a) Trường hợp các tỉnh, thành phố có chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt thì tiếp tục thực hiện chương trình này đến khi có chương trình phát triển đô thị được lập và phê duyệt theo quy định tại Nghị định này. Trong thời hạn tối đa 12 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau sắp xếp có trách nhiệm lập và phê duyệt chương trình phát triển đô thị áp dụng cho toàn tỉnh, thành phố theo quy định của Nghị định này; b) Trường hợp có tỉnh, thành phố có chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt và có tỉnh, thành phố chưa có chương trình phát triển đô thị được phê duyệt thì chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt tiếp tục được thực hiện. Trong thời hạn tối đa 12 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sau sắp xếp có trách nhiệm lập và phê duyệt chương trình phát triển đô thị áp dụng cho toàn tỉnh, thành phố theo quy định của Nghị định này. 2. Đối với các tỉnh, thành phố không thuộc diện sắp xếp mà đã có chương trình phát triển đô thị được phê duyệt thì tiếp tục thực hiện theo chương trình phát triển đô thị đã được phê duyệt cho đến khi có chương trình phát triển đô thị mới được phê duyệt theo quy định của Nghị định này. Trong thời hạn tối đa 12 tháng, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có trách nhiệm lập mới hoặc điều chỉnh và phê duyệt chương trình phát triển đô thị áp dụng cho toàn tỉnh, thành phố theo quy định của Nghị định này. 3. Việc xây dựng mới hoặc điều chỉnh chương trình phát triển đô thị theo quy định tại Nghị định này được áp dụng cho giai đoạn từ năm 2021 đến hết năm 2030; từ năm 2031 các địa phương thực hiện xây dựng mới chương trình phát triển đô thị áp dụng cho giai đoạn 10 năm theo quy định của Nghị định này. 4. Việc xây dựng kế hoạch phát triển đô thị theo quy định tại Nghị định này được áp dụng cho giai đoạn từ năm 2026 đến hết năm 2030; từ năm 2031 các địa phương thực hiện xây dựng kế hoạch phát triển đô thị theo nội dung chương trình cho giai đoạn mới quy định tại khoản 3 Điều này. 5. Các chương trình phát triển đô thị của thành phố, thị xã thuộc tỉnh và thị trấn đã được phê duyệt trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì tiếp tục thực hiện đến khi có chương trình phát triển đô thị được lập và phê duyệt để áp dụng cho toàn tỉnh, thành phố theo quy định của Nghị định này. 6. Trường hợp loại đô thị đã được công nhận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành mà có sự thay đổi theo quy định của Nghị quyết số 111/2025/UBTVQH15 và Nghị định này thì các nội dung về phát triển nhà ở, kinh doanh bất động sản liên quan đến loại đô thị đang thực hiện theo văn bản chấp thuận chủ trương đầu tư, các quyết định về xác định khu vực, vị trí phát triển nhà ở, kinh doanh bất động sản đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định, chấp thuận trước ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành thì được tiếp tục thực hiện theo văn bản chấp thuận, quyết định này./.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.