Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 16/2017/QH14

Điều 26. Tổ chức quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ

Căn cứ: Điều 26, 16/2017/QH14 — Luật Lâm nghiệp số 16/2017/QH14

Tóm tắt

Điều 26 quy định việc thành lập ban quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ theo tiêu chí diện tích và loại rừng; các trường hợp không thuộc diện thành lập ban quản lý thì giao cho tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, đơn vị vũ trang quản lý.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Rừng đặc dụng: thành lập ban quản lý đối với vườn quốc gia; khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan có diện tích tập trung từ 3.000 ha trở lên.
  • ▸Nếu trên địa bàn cấp tỉnh có nhiều khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan mỗi khu dưới 3.000 ha thì thành lập một ban quản lý rừng đặc dụng trên địa bàn.
  • ▸Rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, vườn thực vật quốc gia, rừng giống quốc gia do tổ chức được giao tự tổ chức quản lý.
  • ▸Rừng phòng hộ: thành lập ban quản lý đối với rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ biên giới có diện tích tập trung từ 5.000 ha trở lên; rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển có diện tích từ 3.000 ha trở lên.
  • ▸Các khu rừng phòng hộ không thuộc diện thành lập ban quản lý thì giao cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, đơn vị vũ trang trên địa bàn để quản lý.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn ngưỡng diện tích: rừng phòng hộ đầu nguồn, biên giới là 5.000 ha; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển là 3.000 ha.
  • Cho rằng mọi khu rừng đặc dụng đều phải thành lập ban quản lý, kể cả khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học.

Giải thích

Điều 26 quy định tổ chức quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Đối với rừng đặc dụng, ban quản lý được thành lập cho vườn quốc gia; khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan có diện tích tập trung từ 3.000 ha trở lên. Nếu trên địa bàn cấp tỉnh có nhiều khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan mỗi khu dưới 3.000 ha thì thành lập một ban quản lý rừng đặc dụng trên địa bàn. Các khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, vườn thực vật quốc gia, rừng giống quốc gia do tổ chức được giao tự quản lý. Đối với rừng phòng hộ, ban quản lý được thành lập cho rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ biên giới có diện tích tập trung từ 5.000 ha trở lên hoặc rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển có diện tích từ 3.000 ha trở lên. Các khu rừng phòng hộ khác được giao cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, đơn vị vũ trang trên địa bàn quản lý.
Nguyên văn Điều 26. Tổ chức quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ
1. Tổ chức qu ản lý rừng đặc dụng được quy định như sau: a) Thành lập ban quản lý rừng đặc dụng đối với vườn quốc gia; khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan có diện tích tập trung từ 3.000 ha trở lên. Trường hợp trên địa bàn cấp tỉnh có một hoặc nhiều khu dự trữ thiên nhiên, khu bảo tồn loài - sinh cảnh, khu bảo vệ cảnh quan có diện tích mỗi khu dưới 3.000 ha thì thành lập một ban quản lý rừng đặc dụng trên địa bàn; b) Tổ chức được giao khu rừng nghiên cứu, thực nghiệm khoa học, vườn thực vật quốc gia, rừng giống quốc gia tự tổ chức quản lý khu rừng. 2. Tổ chức quản lý rừng phòng hộ được quy định như sau: a) Thành lập ban quản lý rừng phòng hộ đối với rừng phòng hộ đầu nguồn, rừng phòng hộ biên giớ i có diện tích tập trung từ 5.000 ha trở lên hoặc rừng phòng hộ chắn gió, chắn cát bay; rừng phòng hộ chắn sóng, lấn biển có diện tích từ 3.000 ha trở lên; b) Các khu rừng phòng hộ không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này thì giao cho tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, đơn vị vũ trang trên địa bàn để quản lý. 3. Việc tổ chức quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ thực hiện theo Quy chế quản lý rừng.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.