Điều 27. Nội dung, trình tự kiểm tra công tác nghiệm thu công trình xây dựng
Căn cứ: Điều 27, 207/2026/NĐ-CP — Nghị định 207/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý chất Iượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng
Tóm tắt
Điều 27 quy định nội dung kiểm tra công tác nghiệm thu, trình tự kiểm tra trong quá trình thi công và khi hoàn thành công trình của cơ quan chuyên môn về xây dựng. Điều này cũng nêu rõ số lần kiểm tra tối đa, thời hạn ra văn bản thông báo kết quả kiểm tra và trường hợp nghiệm thu có điều kiện.
Ý chính cần nhớ
- ▸Nội dung kiểm tra: tuân thủ quy định quản lý chất lượng, an toàn của chủ đầu tư và nhà thầu từ khởi công đến nghiệm thu hoàn thành; kiểm tra điều kiện nghiệm thu hoàn thành.
- ▸Riêng thiết bị công trình: kiểm tra việc nghiệm thu lắp đặt, chạy thử thiết bị của chủ đầu tư và nhà thầu liên quan.
- ▸Cơ quan chuyên môn về xây dựng không kiểm tra phần dây chuyền và thiết bị công nghệ theo thiết kế công nghệ.
- ▸Trong quá trình thi công: kiểm tra không quá 03 lần với công trình cấp đặc biệt, cấp I; không quá 02 lần với công trình còn lại.
- ▸Thời hạn thông báo kết quả kiểm tra trong thi công: không quá 10 ngày làm việc kể từ ngày kiểm tra.
- ▸Khi hoàn thành: chủ đầu tư gửi báo cáo theo Phụ lục VI; cơ quan chuyên môn ra văn bản theo Phụ lục VIII, thời hạn 16 ngày làm việc với cấp I, đặc biệt và 12 ngày làm việc với công trình còn lại.
- ▸Trường hợp nghiệm thu có điều kiện: chủ đầu tư phải báo cáo kèm báo cáo nhà thầu liên quan về kết quả thực hiện nội dung khoản 3 Điều 24.
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm số lần kiểm tra trong quá trình thi công: tối đa 03 lần cho cấp đặc biệt và cấp I, 02 lần cho công trình còn lại.
- Nhầm thời hạn ra văn bản kiểm tra hoàn thành: 16 ngày làm việc cho cấp I, đặc biệt; 12 ngày làm việc cho công trình còn lại.
- Lầm tưởng cơ quan chuyên môn kiểm tra cả dây chuyền, thiết bị công nghệ theo thiết kế công nghệ.
Giải thích
Nguyên văn Điều 27. Nội dung, trình tự kiểm tra công tác nghiệm thu công trình
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.