Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 24/2023/QH15

Điều 28. Cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet

Căn cứ: Điều 28, 24/2023/QH15 — Luật Viễn thông số 24/2023/QH15

Tóm tắt

Điều 28 quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet. Doanh nghiệp được đầu tư kinh doanh không giới hạn tỷ lệ sở hữu nước ngoài và có các quyền theo các điều khoản được dẫn chiếu. Nghĩa vụ bao gồm đăng ký, thông báo, thực hiện các quy định của Luật, lưu trữ thông tin người sử dụng, thông báo và xin phép khi truy nhập thiết bị đầu cuối, công bố chất lượng dịch vụ.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet được đầu tư kinh doanh không giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc tỷ lệ đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh.
  • ▸Doanh nghiệp có các quyền quy định tại các điểm a, b, đ, e và g khoản 1 Điều 13, khoản 3 Điều 40, khoản 2 Điều 62 của Luật Viễn thông số 24/2023/QH15.
  • ▸Nghĩa vụ: thực hiện việc đăng ký, thông báo cung cấp dịch vụ viễn thông theo Điều 41.
  • ▸Nghĩa vụ: thực hiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 5, Điều 6, Điều 9, các điểm b, c, d, g, l và n khoản 2 Điều 13, các khoản 1, 3 và 4 Điều 20, Điều 22, khoản 1 và khoản 3 Điều 23, khoản 2 Điều 40 của Luật này.
  • ▸Nghĩa vụ: thực hiện quy định tại Điều 58, khoản 3 Điều 59, Điều 60, khoản 1 và khoản 3 Điều 62 của Luật này trong trường hợp cung cấp dịch vụ có thu tiền của người sử dụng.
  • ▸Nghĩa vụ: lưu trữ, quản lý thông tin người sử dụng dịch vụ đã cung cấp khi giao kết hợp đồng theo quy định của Chính phủ.
  • ▸Nghĩa vụ: khi truy nhập vào các tính năng trên thiết bị đầu cuối của người sử dụng để phục vụ việc cung cấp dịch vụ, phải thông báo cho người sử dụng về sự cần thiết và phải được người sử dụng đồng ý trước khi thực hiện truy nhập.
  • ▸Nghĩa vụ: công bố chất lượng dịch vụ do mình cung cấp nếu có sở hữu hạ tầng mạng hoặc có thỏa thuận với doanh nghiệp viễn thông có hạ tầng mạng; công bố chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào chất lượng mạng viễn thông, dịch vụ viễn thông do các doanh nghiệp viễn thông khác quản lý, cung cấp nếu không sở hữu hạ tầng mạng, không có thỏa thuận với doanh nghiệp viễn thông có hạ tầng mạng.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa quyền và nghĩa vụ: quyền về đầu tư không giới hạn tỷ lệ nước ngoài, nhưng vẫn phải tuân thủ các nghĩa vụ về đăng ký, thông báo.
  • Cho rằng doanh nghiệp được tự do truy nhập thiết bị đầu cuối của người sử dụng mà không cần thông báo và đồng ý – trái với điểm đ khoản 2 Điều 28.
  • Nghĩ rằng mọi doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet đều phải công bố chất lượng dịch vụ như nhau – tùy thuộc vào việc có sở hữu hạ tầng mạng hoặc có thỏa thuận hay không.

Giải thích

Điều 28 quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet. Về quyền, doanh nghiệp được đầu tư kinh doanh dịch vụ này mà không bị giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc tỷ lệ đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; đồng thời được hưởng các quyền được dẫn chiếu tại một số điều khoản của Luật. Về nghĩa vụ, doanh nghiệp phải đăng ký, thông báo cung cấp dịch vụ; tuân thủ nhiều quy định của Luật; lưu trữ, quản lý thông tin người sử dụng; thông báo và xin phép trước khi truy nhập thiết bị đầu cuối của người sử dụng; và công bố chất lượng dịch vụ theo trường hợp cụ thể. Điều 28 cũng giao Chính phủ quy định chi tiết quyền và nghĩa vụ của tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ qua biên giới.
Nguyên văn Điều 28. Cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet
1. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet có các quyền sau đây: a) Đầu tư kinh doanh dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet không giới hạn tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp hoặc tỷ lệ đóng góp của nhà đầu tư nước ngoài trong hợp đồng hợp tác kinh doanh; b) Các quyền quy định tại các điểm a, b, đ, e và g khoản 1 Điều 13, khoản 3 Đ iều 40, khoản 2 Điều 62 của Luật này. 2. Doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet có các nghĩa vụ sau đây: a) Thực hiện việc đăng ký, thông báo cung cấp dịch vụ viễn thông theo quy định tại Điều 41 của Luật này; 24 CÔNG BÁO/Số 29 + 30/Ngày 05-01-2024 b) Thực hiện quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 5, Điều 6, Điều 9, các điểm b, c, d, g, l và n khoản 2 Điều 13, các khoản 1, 3 và 4 Điều 20, Điều 22, khoản 1 và khoản 3 Điều 23, khoản 2 Điều 40 của Luật này; c) Thực hiện quy định tại Điều 58, khoản 3 Điều 59, Điều 60, khoản 1 và khoản 3 Điều 62 của Luật này trong trường hợ p cung cấp dịch vụ có thu tiền của người sử dụng; d) Thực hiện việc lưu trữ, quản lý thông tin người sử dụng dịch vụ đã cung cấp khi giao kết hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ viễn thông theo quy định của Chính phủ; đ) Trường hợp cần thực hiện truy nhập vào các tính năng trên thiết bị đầu cuối của người sử dụng dịch vụ để phục vụ việc cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet có trách nhiệm thông báo cho người sử dụng về sự cần thiết và phải được người sử dụng đồng ý trước khi thực hiện truy nhập; e) Công bố chất lượng dịch vụ do mình cung cấp nếu có sở hữu hạ tầng mạng hoặ c có thỏa thuận với doanh nghiệp viễn thông có hạ tầng mạng; công bố chất lượng dịch vụ do mình cung cấp phụ thuộc vào chất lượng mạng viễn thông, dịch vụ viễn thông do các doanh nghiệp viễn thông khác quản lý, cung cấp nếu không sở hữu hạ tầng mạng, không có thỏa thuận với doanh nghiệp viễn thông có hạ tầng mạng. 3. Chính phủ quy định chi tiết về quyền và nghĩa vụ của tổ chức nước ngoài cung cấp dịch vụ viễn thông cơ bản trên Internet qua biên giới đến người sử dụng dịch vụ trên lãnh thổ Việt Nam trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và cam kết chung trong các điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.