Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 96/2026/NĐ-CP

Điều 29. Xác định giá trị vốn đầu tư; giám định giá trị vốn đầu tư; giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ

Căn cứ: Điều 29, 96/2026/NĐ-CP — Nghị định 96/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư

Tóm tắt

Điều 29 quy định cách xác định vốn đăng ký và vốn đầu tư thực hiện của dự án đầu tư; các trường hợp cơ quan nhà nước thực hiện giám định độc lập giá trị vốn đầu tư, chất lượng và giá trị máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ; thẩm quyền giám định và chi phí giám định.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Vốn đăng ký gồm: vốn góp của nhà đầu tư (tiền, máy móc, thiết bị, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, quyền sử dụng đất, tài sản khác), vốn huy động, lợi nhuận để lại để tái đầu tư (nếu có).
  • ▸Vốn đầu tư thực hiện được xác định trên cơ sở vốn đã góp, huy động và lợi nhuận để lại để tái đầu tư trong quá trình thực hiện dự án; nhà đầu tư tự xác định sau khi dự án được đưa vào khai thác, vận hành.
  • ▸Giám định độc lập được thực hiện khi: (a) cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, cơ quan quản lý thuế có căn cứ xác định nhà đầu tư kê khai thuế không trung thực, chính xác, đầy đủ về giá trị vốn đầu tư; (b) cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có căn cứ xác định nhà đầu tư có dấu hiệu vi phạm về ứng dụng, chuyển giao công nghệ.
  • ▸Trường hợp (a): cơ quan quản lý thuế thực hiện giám định để xác định số tiền thuế phải nộp; cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư thuê tổ chức giám định độc lập để giám định giá trị vốn đầu tư của dự án.
  • ▸Trường hợp (b): Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì giám định chất lượng và giá trị máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đối với dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ; cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ thuộc UBND cấp tỉnh chủ trì đối với dự án không thuộc trường hợp trên.
  • ▸Giám định chất lượng và giá trị máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ được thực hiện thông qua tham vấn Hội đồng đánh giá, thẩm định, giám định công nghệ, tổ chức, chuyên gia giám định độc lập về máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ được sử dụng trong quá trình thực hiện dự án đầu tư.
  • ▸Chi phí giám định được bố trí từ ngân sách nhà nước; trường hợp kết quả giám định làm tăng nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nhà đầu tư phải chịu chi phí giám định.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm lẫn giữa vốn đăng ký và vốn đầu tư thực hiện: vốn đăng ký gồm các nguồn tại thời điểm đăng ký; vốn đầu tư thực hiện là thực tế đã góp, huy động và lợi nhuận để lại trong quá trình thực hiện dự án.
  • Cho rằng mọi trường hợp đều do cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư thuê giám định độc lập; thực tế, trường hợp (a) cơ quan thuế giám định để xác định thuế, cơ quan đầu tư thuê giám định giá trị vốn đầu tư; trường hợp (b) do cơ quan khoa học và công nghệ chủ trì.
  • Nghĩ rằng nhà đầu tư luôn phải chịu chi phí giám định; chỉ khi kết quả giám định làm tăng nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước thì nhà đầu tư mới phải chịu chi phí.

Giải thích

Điều 29 Nghị định 96/2026/NĐ-CP quy định chi tiết về xác định giá trị vốn đầu tư và giám định trong lĩnh vực đầu tư. Thứ nhất, vốn đăng ký thực hiện dự án đầu tư được xác định trên cơ sở vốn góp của nhà đầu tư (bằng tiền, máy móc, thiết bị, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, tài sản khác theo pháp luật về dân sự, điều ước quốc tế về đầu tư), vốn huy động để thực hiện dự án và lợi nhuận để lại để tái đầu tư (nếu có). Thứ hai, vốn đầu tư thực hiện của dự án được xác định trên cơ sở vốn nhà đầu tư đã góp, huy động và lợi nhuận để lại để tái đầu tư trong quá trình thực hiện dự án; nhà đầu tư tự xác định giá trị này sau khi dự án được đưa vào khai thác, vận hành. Thứ ba, việc giám định độc lập giá trị vốn đầu tư, chất lượng và giá trị máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ sau khi dự án được đưa vào khai thác, vận hành được thực hiện trong hai trường hợp: (a) cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, cơ quan quản lý thuế có căn cứ xác định nhà đầu tư kê khai thuế không trung thực, chính xác, đầy đủ về giá trị vốn đầu tư; (b) cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có căn cứ xác định nhà đầu tư có dấu hiệu vi phạm về ứng dụng, chuyển giao công nghệ. Thứ tư, thẩm quyền và chi phí giám định được quy định cụ thể: trường hợp (a) cơ quan thuế giám định xác định số tiền thuế phải nộp, cơ quan đầu tư thuê tổ chức giám định độc lập để giám định giá trị vốn đầu tư; trường hợp (b) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì đối với dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ thuộc UBND cấp tỉnh chủ trì đối với dự án khác. Chi phí giám định do ngân sách nhà nước bảo đảm, trừ trường hợp kết quả giám định làm tăng nghĩa vụ thuế thì nhà đầu tư phải chịu chi phí.
Nguyên văn Điều 29. Xác định giá trị vốn đầu tư; giám định giá trị vốn đầu tư; giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ
1. Vốn đăng ký thực hiện dự án đầu tư được xác định trên cơ sở: a) Vốn góp của nhà đầu tư bằng tiền, máy móc, thiết bị, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, giá trị quyền sử dụng đất, tài sản khác theo pháp luật về dân sự, điều ước quốc tế về đầu tư; b) Vốn huy động để thực hiện dự án đầu tư; c) Lợi nhuận để lại của nhà đầu tư để tái đầu tư (nếu có). 2. Vốn đầu tư thực hiện của dự án đầu tư được xác định trên cơ sở vốn nhà đầu tư đã góp, huy động và lợi nhuận để lại để tái đầu tư trong quá trình thực hiện dự án. Nhà đầu tư tự xác định giá trị vốn đầu tư thực hiện của dự án đầu tư sau khi dự án được đưa vào khai thác, vận hành. 3. Việc giám định độc lập giá trị vốn đầu tư, chất lượng và giá trị của máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ sau khi dự án đầu tư được đưa vào khai thác, vận hành theo quy định tại khoản 3 Điều 32 của Luật Đầu tư được thực hiện trong các trường hợp sau: a) Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, cơ quan quản lý thuế có căn cứ xác định nhà đầu tư kê khai thuế không trung thực, chính xác, đầy đủ về giá trị vốn đầu tư theo quy định của pháp luật về thuế và quản lý thuế; b) Cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư, cơ quan quản lý nhà nước về khoa học và công nghệ có căn cứ xác định nhà đầu tư có dấu hiệu vi phạm về ứng dụng, chuyển giao công nghệ trong quá trình thực hiện dự án đầu tư theo quy định của pháp luật về chuyển giao công nghệ. 4. Đối với trường hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều này, cơ quan quản lý thuế thực hiện giám định để xác định số tiền thuế phải nộp của nhà đầu tư; việc thuê tổ chức giám định độc lập để giám định giá trị vốn đầu tư của dự án do cơ quan quản lý nhà nước về đầu tư thực hiện. 5. Đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 3 Điều này: a) Bộ Khoa học và Công nghệ chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức việc giám định chất lượng và giá trị của máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đối với dự án thuộc thẩm quyền chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ; b) Cơ quan chuyên môn về khoa học và công nghệ thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh chủ trì, phối hợp với cơ quan liên quan tổ chức việc giám định chất lượng và giá trị của máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ đối với dự án không thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản này; c) Việc giám định chất lượng và giá trị máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ được thực hiện thông qua tham vấn Hội đồng đánh giá, thẩm định, giám định công nghệ, tổ chức, chuyên gia giám định độc lập về máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ được sử dụng trong quá trình thực hiện dự án đầu tư; d) Hồ sơ, trình tự, thủ tục thực hiện giám định máy móc, thiết bị, dây chuyền công nghệ thực hiện theo quy định của Thủ tướng Chính phủ. 6. Chi phí tổ chức giám định theo quy định tại các khoản 4 và 5 Điều này được bố trí từ nguồn ngân sách nhà nước. Trường hợp kết quả giám định dẫn đến làm tăng nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước, nhà đầu tư phải chịu chi phí giám định.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.