Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 27/2020/TT-BGDĐT

Điều 3. Mục đích đánh giá

Căn cứ: Điều 3, 27/2020/TT-BGDĐT — Thông tư 27/2020/TT-BGDĐT ban hành Quy định đánh giá học sinh tiểu học

Tóm tắt

Điều 3 xác định mục đích chung của đánh giá là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, xác định thành tích học tập, rèn luyện và sự tiến bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục. Các mục đích cụ thể hướng đến giáo viên, học sinh, cha mẹ học sinh, cán bộ quản lý giáo dục và các tổ chức xã hội.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục; kịp thời phát hiện cố gắng, tiến bộ và khó khăn của học sinh.
  • ▸Giúp học sinh có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện.
  • ▸Giúp cha mẹ học sinh tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực; tích cực hợp tác với nhà trường.
  • ▸Giúp cán bộ quản lý giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá.
  • ▸Giúp các tổ chức xã hội nắm thông tin chính xác, khách quan, phát huy nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển giáo dục.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm mục đích dành cho học sinh với mục đích dành cho cha mẹ học sinh.
  • Bỏ sót mục đích đối với tổ chức xã hội.

Giải thích

Điều 3 nêu mục đích đánh giá theo hướng cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, xác định thành tích học tập, rèn luyện theo mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt và sự tiến bộ của học sinh, từ đó hướng dẫn hoạt động học tập và điều chỉnh hoạt động dạy học. Cụ thể: giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ để động viên, khích lệ và phát hiện khó khăn chưa thể tự vượt qua để hướng dẫn, giúp đỡ. Giúp học sinh có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, hợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện. Giúp cha mẹ học sinh tham gia đánh giá và tích cực hợp tác với nhà trường. Giúp cán bộ quản lý giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá. Giúp các tổ chức xã hội nắm thông tin chính xác, khách quan, phát huy nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển giáo dục.
Nguyên văn Điều 3. Mục đích đánh giá
Mục đích đánh giá là cung cấp thông tin chính xác, kịp thời, xác định được thành tích học tập, rèn luyện theo mức độ đáp ứng yêu cầu cần đạt của chương trình giáo dục phổ thông cấp tiểu học và sự tiế n bộ của học sinh để hướng dẫn hoạt động học tập, điều chỉnh các hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, cụ thể như sau: 1. Giúp giáo viên điều chỉnh, đổi mới hình thức tổ chức, phương pháp giáo dục trong quá trình dạy học, giáo dục; kịp thời phát hiện những cố gắng, tiến bộ của học sinh nhằm động viên, khích lệ và phát hiện những khó khăn chưa thể tự vượt qua của học sinh để hướng dẫn, giúp đỡ nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động học tập, rèn luyện của học sinh; góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học. 2. Giúp học sinh có khả năng tự nhận xét, tham gia nhận xét; tự học, tự điều chỉnh cách học; giao tiếp, h ợp tác; có hứng thú học tập và rèn luyện để tiến bộ. 3. Giúp cha mẹ học sinh hoặc người giám hộ (sau đây gọi chung là cha mẹ học sinh) tham gia đánh giá quá trình và kết quả học tập, rèn luyện, quá trình hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh; tích cực hợp tác với nhà trường trong các hoạt động giáo dục học sinh. 4. Giúp cán bộ quản lý giáo dục các cấp kịp thời chỉ đạo các hoạt động giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học, phương pháp đánh giá nhằm đạt hiệu quả giáo dục. 5. Giúp các tổ chức xã hội nắm thông tin chính xác, khách quan, phát huy nguồn lực xã hội tham gia đầu tư phát triển giáo dục.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.