Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 64/2025/QH15

Điều 30. Lấy ý kiến, tham vấn chính sách

Căn cứ: Điều 30, 64/2025/QH15 — Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 30 quy định trách nhiệm của cơ quan lập đề xuất chính sách trong việc lấy ý kiến, tham vấn; hồ sơ chính sách để lấy ý kiến, tham vấn; và trường hợp hồ sơ không do Chính phủ trình thì phải xin ý kiến Chính phủ với thời hạn trả lời 30 ngày.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Cơ quan lập đề xuất chính sách phải tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu tác động trực tiếp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan.
  • ▸Nếu lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến phải trả lời trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị.
  • ▸Phải tổ chức hội nghị tham vấn Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với chính sách liên quan trực tiếp thuộc phạm vi, lĩnh vực phụ trách; lãnh đạo cơ quan lập đề xuất thuyết trình, giải trình; xây dựng văn bản kết quả tham vấn nêu rõ quan điểm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được tham vấn.
  • ▸Hồ sơ chính sách để lấy ý kiến, tham vấn gồm: Tờ trình; Báo cáo đánh giá tác động; Báo cáo rà soát chủ trương, đường lối, văn bản pháp luật, điều ước quốc tế; Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách.
  • ▸Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, tham vấn.
  • ▸Hồ sơ chính sách không do Chính phủ trình phải xin ý kiến Chính phủ; hồ sơ gửi gồm văn bản đề nghị và các tài liệu tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều 31.
  • ▸Chính phủ trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ chính sách; cơ quan lập đề xuất phải nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến của Chính phủ.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn trả lời khi lấy ý kiến bằng văn bản là 30 ngày; thực tế là 15 ngày.
  • Nhầm thời hạn Chính phủ trả lời là 15 ngày; thực tế là 30 ngày.
  • Bỏ sót thành phần hồ sơ chính sách để lấy ý kiến, tham vấn.

Giải thích

Điều 30 quy định việc lấy ý kiến, tham vấn chính sách. Cơ quan lập đề xuất chính sách phải tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu tác động trực tiếp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Nếu lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến phải trả lời trong 15 ngày kể từ ngày nhận đề nghị. Cơ quan lập đề xuất cũng phải tổ chức hội nghị tham vấn Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với chính sách liên quan trực tiếp; lãnh đạo cơ quan thuyết trình, giải trình và xây dựng văn bản kết quả tham vấn nêu rõ quan điểm của các bên. Hồ sơ chính sách để lấy ý kiến, tham vấn gồm: Tờ trình; Báo cáo đánh giá tác động; Báo cáo rà soát chủ trương, đường lối, văn bản pháp luật, điều ước quốc tế; Báo cáo tổng kết thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội; Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách. Sau đó, cơ quan lập đề xuất phải nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến. Với hồ sơ không do Chính phủ trình, cơ quan lập đề xuất phải xin ý kiến Chính phủ; hồ sơ gửi gồm văn bản đề nghị và các tài liệu tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều 31; Chính phủ trả lời bằng văn bản trong 30 ngày kể từ ngày nhận hồ sơ.
Nguyên văn Điều 30. Lấy ý kiến, tham vấn chính sách
1. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm sau đây: a) Tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội, các Đoàn đại biểu Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ và cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có liên quan. Trường hợp lấy ý kiến bằng văn bản, cơ quan, tổ chức được lấy ý kiến có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được đề nghị tham gia góp ý kiến; b) Tổ chức hội nghị tham vấn Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội, Bộ, cơ quan ngang Bộ đối với chính sách liên quan trực tiếp thuộc phạm vi, lĩnh vực phụ trách trong quá trình xây dựng chính sách. Theo yêu cầu của Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội được tham vấn, cơ quan lập đề xuất chính sách mời đại diện cơ quan khác của Quốc hội, đối tượng hoặc tổ chức đại diện cho đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của chính sách, các chuyên gia, nhà khoa học và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan tham gia hội nghị. Tại hội nghị tham vấn, lãnh đạo cơ quan lập đề xuất chính sách thuyết trình và giải trình các vấn đề liên quan đến chính sách. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm xây dựng văn bản về kết quả tham vấn chính sách trong đó phải nêu rõ quan điểm của cơ quan, tổ chức, cá nhân được tham vấn. Việc tham vấn chính sách đối với Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện theo quy định của Chính phủ; c) Nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, tham vấn chính sách. 2. Hồ sơ chính sách để lấy ý kiến, tham vấn chính sách gồm dự thảo các tài liệu sau đây: a) Tờ trình; b) Báo cáo đánh giá tác động của chính sách; c) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến chính sách; d) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến chính sách; đ) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách. 3. Đối với hồ sơ chính sách không do Chính phủ trình, cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm xin ý kiến Chính phủ. Hồ sơ chính sách gửi Chính phủ cho ý kiến gồm văn bản đề nghị cho ý kiến và các tài liệu quy định tại các điểm b, c, d, đ, e và g khoản 2 Điều 31 của Luật này. Chính phủ có trách nhiệm trả lời bằng văn bản trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ chính sách. Cơ quan lập đề xuất chính sách có trách nhiệm nghiên cứu tiếp thu, giải trình ý kiến của Chính phủ.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.