Điều 34. Xử lý tài sản chung và tài chính khi chấm dứt hoạt động tổ hợp tác
Căn cứ: Điều 34, 294/2026/NĐ-CP — Nghị định 294/2026/NĐ-CP Về tổ hợp tác
Tóm tắt
Khi tổ hợp tác chấm dứt hoạt động theo khoản 1 Điều 21, trước hết dùng tài sản chung để trả nghĩa vụ tài chính; nếu thiếu, thành viên góp thêm bằng tài sản riêng theo tỷ lệ đóng góp (trừ trường hợp luật hoặc hợp đồng quy định khác). Tài sản có nguồn hỗ trợ của Nhà nước hoặc do tài trợ, tặng cho mà tổ hợp tác không có quyền định đoạt thì chuyển giao hoặc xử lý theo thỏa thuận. Phần tài sản chung còn dư được chia theo tỷ lệ đóng góp.
Ý chính cần nhớ
- ▸Nghĩa vụ tài chính phát sinh khi tổ hợp tác hoạt động được trả bằng tài sản chung (khoản 1).
- ▸Nếu tài sản chung không đủ, thành viên trả bằng tài sản riêng theo tỷ lệ phần đóng góp, trừ khi hợp đồng hoặc pháp luật có liên quan quy định khác (khoản 2).
- ▸Tài sản từ hỗ trợ của Nhà nước mà tổ hợp tác không được định đoạt: bàn giao UBND cấp xã nơi cấp Giấy chứng nhận đăng ký tổ hợp tác để xử lý theo quy trình xử lý quỹ/tài sản chung không chia của hợp tác xã (điểm a khoản 3).
- ▸Tài sản được tài trợ, tặng cho hợp pháp: xử lý theo thỏa thuận giữa bên tài trợ, tặng cho và tổ hợp tác, cùng quy định pháp luật khác (điểm b khoản 3).
- ▸Tài sản chung còn dư sau thanh toán: chia cho thành viên theo tỷ lệ đóng góp ghi trong hợp đồng, trừ thỏa thuận khác hoặc pháp luật có liên quan quy định khác (khoản 4).
Lưu ý dễ nhầm
- Nhầm tỷ lệ góp vốn trả nợ với chia tài sản còn dư; cả hai đều theo tỷ lệ đóng góp, nhưng trả nợ có ngoại lệ theo hợp đồng/pháp luật, chia dư có ngoại lệ thỏa thuận/pháp luật.
- Tưởng tổ hợp tác được tự định đoạt tài sản hỗ trợ, tài trợ, tặng cho; thực tế có tài sản phải bàn giao hoặc theo thỏa thuận.
- Quên rằng tài sản riêng chỉ phải dùng khi tài sản chung không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài chính.
Giải thích
Nguyên văn Điều 34. Xử lý tài sản chung của các thành viên tổ hợp tác, tài chính của tổ hợp tác khi chấm dứt hoạt động
Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.