Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 74/2025/QH15

Điều 35. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp

Căn cứ: Điều 35, 74/2025/QH15 — Luật Việc làm số 74/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 35 quy định cách xác định thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng chế độ, gồm tổng thời gian đã đóng từ khi bắt đầu tham gia đến khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp, thời gian đóng được tính lại từ đầu, trừ trường hợp bảo lưu; thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp không dùng để tính trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng chế độ là tổng thời gian đã đóng từ khi bắt đầu đóng đến khi chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
  • ▸Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tiếp theo được tính lại từ đầu.
  • ▸Ngoại lệ của việc tính lại từ đầu là trường hợp được bảo lưu theo khoản 5 và khoản 6 Điều 41 của Luật Việc làm số 74/2025/QH15.
  • ▸Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo pháp luật về lao động, pháp luật về viên chức.
  • ▸Chính phủ quy định về thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm rằng sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp, thời gian đóng cũ luôn được cộng dồn; thực tế tính lại từ đầu, trừ trường hợp bảo lưu.
  • Cho rằng thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp cũng được tính cho trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc; Điều 35 khoản 3 quy định không được tính.

Giải thích

Điều 35 giúp xác định thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp – cơ sở để xét hưởng trợ cấp thất nghiệp và các chế độ liên quan. Theo khoản 1, thời gian này là tổng thời gian đã đóng từ khi bắt đầu tham gia đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp. Khoản 2 nêu nguyên tắc: sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng tiếp theo được tính lại từ đầu, trừ trường hợp được bảo lưu theo khoản 5 và khoản 6 Điều 41. Khoản 3 nhấn mạnh thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp không dùng để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc. Khoản 4 giao Chính phủ quy định về thời gian đã đóng nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.
Nguyên văn Điều 35. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp
1. Thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp để xét hưởng các chế độ bảo hiểm thất nghiệp là tổng thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp từ khi bắt đầu đóng bảo hiểm thất nghiệp cho đến khi người lao động chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc chấm dứt làm việc theo quy định của pháp luật mà chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp. 2. Sau khi chấm dứt hưởng trợ cấp thất nghiệp, thời gian đóng bảo hiểm thất nghiệp tiếp theo được tính lại từ đầu, trừ trường hợp được bảo lưu theo quy định tại khoản 5 và khoản 6 Điều 41 của Luật này. 3. Thời gian người lao động đóng bảo hiểm thất nghiệp không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm hoặc trợ cấp thôi việc theo quy định của pháp luật về lao động, pháp luật về viên chức. 4. Chính phủ quy định về thời gian đã đóng bảo hiểm thất nghiệp nhưng chưa hưởng trợ cấp thất nghiệp.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.