Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 207/2026/NĐ-CP

Điều 36. Thực hiện bảo trì công trình xây dựng

Căn cứ: Điều 36, 207/2026/NĐ-CP — Nghị định 207/2026/NĐ-CP Quy định chi tiết một số điều của Luật Xây dựng về quản lý chất Iượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng

Tóm tắt

Điều 36 quy định cách thức thực hiện bảo trì, nội dung kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa, các trường hợp kiểm định xây dựng phục vụ bảo trì và trách nhiệm của các bên liên quan, kể cả khi công trình có nhiều chủ sở hữu hoặc chưa bàn giao.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng công trình tự tổ chức hoặc thuê tổ chức thực hiện kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa theo quy trình bảo trì được phê duyệt.
  • ▸Kiểm tra công trình gồm thường xuyên, định kỳ và đột xuất nhằm phát hiện dấu hiệu xuống cấp, hư hỏng.
  • ▸Bảo dưỡng thực hiện theo kế hoạch bảo trì hằng năm và quy trình bảo trì được phê duyệt.
  • ▸Sửa chữa gồm sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất.
  • ▸Kiểm định xây dựng phục vụ bảo trì được thực hiện trong 5 trường hợp: theo quy trình; khi có hư hỏng/dấu hiệu nguy hiểm; khi lập quy trình bảo trì cho công trình đã sử dụng chưa có quy trình; khi kéo dài thời hạn sử dụng; khi cơ quan quản lý nhà nước yêu cầu.
  • ▸Công trình có nhiều chủ sở hữu: ngoài phần sở hữu riêng, các chủ sở hữu còn có trách nhiệm bảo trì phần sở hữu chung.
  • ▸Công trình chưa bàn giao: chủ đầu tư lập kế hoạch và thực hiện bảo trì theo Điều 36 và Điều 34 Nghị định này.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm kiểm tra đột xuất chỉ khi có thiên tai, trong khi văn bản còn nêu trường hợp có biểu hiện xuống cấp ảnh hưởng an toàn.
  • Cho rằng chỉ có sửa chữa định kỳ mà bỏ qua sửa chữa đột xuất.
  • Nhầm chủ đầu tư không có trách nhiệm bảo trì khi công trình chưa bàn giao.

Giải thích

Điều 36 quy định việc thực hiện bảo trì công trình xây dựng. Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng công trình có thể tự tổ chức hoặc thuê tổ chức thực hiện kiểm tra, bảo dưỡng, sửa chữa theo quy trình bảo trì đã được phê duyệt. Kiểm tra gồm thường xuyên, định kỳ và đột xuất để phát hiện dấu hiệu xuống cấp, hư hỏng, làm cơ sở cho bảo dưỡng. Bảo dưỡng theo kế hoạch bảo trì hằng năm và quy trình bảo trì. Sửa chữa gồm sửa chữa định kỳ và sửa chữa đột xuất. Kiểm định xây dựng phục vụ bảo trì được thực hiện trong 5 trường hợp được liệt kê tại khoản 5. Đối với công trình có nhiều chủ sở hữu, các chủ sở hữu cùng có trách nhiệm bảo trì phần sở hữu chung. Công trình chưa bàn giao: chủ đầu tư phải lập kế hoạch và thực hiện bảo trì theo Điều 36 và Điều 34 Nghị định này.
Nguyên văn Điều 36. Thực hiện bảo trì công trình xây dựng
1. Chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng công trình tự tổ chức thực hiện hoặc thuê tổ chức để thực hiện việc kiểm tra, bảo dưỡng và sửa chữa công trình theo quy trình bảo trì công trình được phê duyệt. 2. Kiểm tra công trình thường xuyên, định kỳ và đột xuất nhằm phát hiện kịp thời các dấu hiệu xuống cấp, những hư hỏng của công trình, thiết bị lắp đặt vào công trình làm cơ sở cho việc bảo dưỡng công trình. 3. Bảo dưỡng công trình được thực hiện theo kế hoạch bảo trì hằng năm và quy trình bảo trì công trình xây dựng được phê duyệt. 4. Sửa chữa công trình bao gồm: a) Sửa chữa định kỳ công trình bao gồm sửa chữa hư hỏng hoặc bổ sung, thay thế bộ phận công trình, hạng mục công trình, thiết bị công trình bị hư hỏng được thực hiện định kỳ theo quy định của quy trình bảo trì; b) Sửa chữa đột xuất công trình được thực hiện khi bộ phận công trình, hạng mục công trình, thiết bị công trình bị hư hỏng do chịu tác động đột xuất như gió, bão, lũ lụt, động đất, va đập, cháy và những tác động đột xuất khác hoặc khi bộ phận công trình, hạng mục công trình, thiết bị công trình có biểu hiện xuống cấp ảnh hưởng đến an toàn sử dụng, vận hành, khai thác công trình. 5. Kiểm định xây dựng phục vụ công tác bảo trì công trình xây dựng được thực hiện trong các trường hợp sau: a) Theo quy trình bảo trì công trình đã được phê duyệt; b) Khi phát hiện thấy công trình, bộ phận công trình có hư hỏng hoặc có dấu hiệu nguy hiểm, không bảo đảm an toàn cho việc khai thác, sử dụng; c) Khi có yêu cầu đánh giá chất lượng hiện trạng của công trình phục vụ cho việc lập quy trình bảo trì đối với những công trình đã đưa vào sử dụng nhưng chưa có quy trình bảo trì; d) Khi cần có cơ sở để quyết định việc kéo dài thời hạn sử dụng của công trình đối với các công trình đã hết thời hạn sử dụng theo thiết kế của công trình; đ) Khi có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền. 6. Quan trắc công trình phục vụ công tác bảo trì công trình xây dựng theo quy định tại Điều 37 Nghị định này. 7. Thực hiện đánh giá an toàn công trình theo quy định tại Điều 40 Nghị định này. 8. Trường hợp công trình có nhiều chủ sở hữu thì ngoài việc chịu trách nhiệm bảo trì phần công trình thuộc sở hữu riêng của mình, các chủ sở hữu có trách nhiệm bảo trì cả phần công trình thuộc sở hữu chung theo quy định của pháp luật có liên quan. 9. Đối với các công trình chưa bàn giao được cho chủ sở hữu hoặc chủ quản lý, sử dụng công trình, chủ đầu tư có trách nhiệm lập kế hoạch bảo trì công trình xây dựng và thực hiện việc bảo trì công trình xây dựng theo các nội dung quy định tại Điều này và Điều 34 Nghị định này. 10. Ngoài các quy định về bảo trì công trình xây dựng tại Nghị định này, việc bảo trì công trình xây dựng được thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành khác có liên quan.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.