Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 64/2025/QH15

Điều 37. Thẩm tra dự án

Căn cứ: Điều 37, 64/2025/QH15 — Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật số 64/2025/QH15

Tóm tắt

Điều 37 quy định thời hạn gửi hồ sơ, cơ quan chủ trì thẩm tra, hồ sơ thẩm tra, nội dung thẩm tra, phương thức thẩm tra và yêu cầu đối với báo cáo thẩm tra. Đây là thủ tục bắt buộc trước khi trình Quốc hội hoặc Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét, thông qua dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết.

Ý chính cần nhớ

  • ▸Thời hạn gửi hồ sơ: chậm nhất 45 ngày trước khai mạc kỳ họp Quốc hội (dự án trình Quốc hội); chậm nhất 20 ngày trước phiên họp UBTVQH (dự án trình UBTVQH).
  • ▸Cơ quan chủ trì thẩm tra: Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực; Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tham gia thẩm tra tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất.
  • ▸Hồ sơ thẩm tra gồm 12 loại tài liệu (a–l), trong đó có tờ trình, dự thảo, báo cáo tổng kết, báo cáo rà soát, bản đánh giá, thuyết minh, so sánh, tổng hợp ý kiến, báo cáo thẩm định, báo cáo tiếp thu giải trình.
  • ▸Nội dung thẩm tra tập trung 8 vấn đề (a–h): phù hợp chủ trương Đảng; phạm vi, đối tượng; nội dung dự thảo; tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất; tương thích điều ước quốc tế, quốc phòng an ninh, tài chính, nhân lực; thủ tục hành chính, phân quyền phân cấp, bình đẳng giới, dân tộc; tính khả thi; ngôn ngữ, thể thức, trình tự thủ tục.
  • ▸Phương thức thẩm tra: tổ chức phiên họp toàn thể; nếu chưa kịp thì Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban thẩm tra sơ bộ; mời cơ quan tham gia thẩm tra; lãnh đạo cơ quan trình dự án tham dự, báo cáo, giải trình.
  • ▸Yêu cầu báo cáo thẩm tra: thể hiện rõ quan điểm về nội dung thẩm tra; phản ánh đầy đủ ý kiến thành viên, cơ quan tham gia, Đoàn đại biểu Quốc hội; nêu rõ đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình; nếu chưa đủ thì báo cáo UBTVQH trả lại hồ sơ.

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm thời hạn 45 ngày (Quốc hội) và 20 ngày (UBTVQH).
  • Nhầm cơ quan chủ trì thẩm tra với cơ quan tham gia thẩm tra.
  • Nhầm báo cáo thẩm định với báo cáo thẩm tra; báo cáo thẩm định là tài liệu trong hồ sơ, còn báo cáo thẩm tra là kết quả của cơ quan thẩm tra.
  • Nhầm thẩm tra sơ bộ (Thường trực) với thẩm tra toàn thể.

Giải thích

Điều 37 quy định trình tự, thủ tục thẩm tra dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết. Trước khi trình Quốc hội, cơ quan trình phải gửi hồ sơ đến cơ quan chủ trì thẩm tra chậm nhất 45 ngày trước khai mạc kỳ họp; nếu trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chậm nhất 20 ngày trước phiên họp. Hồ sơ gồm tờ trình, dự thảo, báo cáo tổng kết, báo cáo rà soát, bản đánh giá, thuyết minh, so sánh, tổng hợp ý kiến, báo cáo thẩm định, báo cáo tiếp thu giải trình và tài liệu khác. Cơ quan chủ trì thẩm tra là Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội phụ trách lĩnh vực; Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp tham gia thẩm tra tính hợp hiến, hợp pháp, thống nhất. Nội dung thẩm tra tập trung vào 8 nhóm vấn đề như sự phù hợp chủ trương, phạm vi, nội dung, tính hợp hiến, tính tương thích điều ước quốc tế, thủ tục hành chính, tính khả thi, ngôn ngữ thể thức. Phương thức thẩm tra là họp toàn thể; nếu chưa kịp có thể thẩm tra sơ bộ tại Thường trực. Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm, phản ánh đầy đủ ý kiến và nêu rõ dự án đủ hay chưa đủ điều kiện trình; nếu chưa đủ thì báo cáo UBTVQH trả lại hồ sơ.
Nguyên văn Điều 37. Thẩm tra dự án
1. Đối với dự án trình Quốc hội thì chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp Quốc hội, cơ quan trình phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra để tiến hành thẩm tra và gửi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này bằng bản điện tử đến Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội để gửi đến các Đoàn đại biểu Quốc hội và đăng tải trên Cổng thông tin điện tử của Quốc hội. Đối với dự án trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chậm nhất là 20 ngày trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan trình phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra để tiến hành thẩm tra. 2. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội chủ trì thẩm tra dự án luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc lĩnh vực mình phụ trách và dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết khác do Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội giao; tham gia thẩm tra đối với nội dung liên quan đến lĩnh vực mình phụ trách trong dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết do cơ quan khác của Quốc hội chủ trì thẩm tra theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp có trách nhiệm tham gia thẩm tra về tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết. 3. Hồ sơ dự án gửi thẩm tra bao gồm: a) Tờ trình; b) Dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ xã hội liên quan đến dự thảo; d) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo; đ) Bản đánh giá về thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có); 26 CÔNG BÁO/Số 603 + 604/Ngày 26-3-2025 e) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách trong trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 27 của Luật này; g) Bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh, nghị quyết hiện hành; h) Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội; i) Báo cáo thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối với dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết không do Chính phủ trình; k) Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định đối với dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết do Chính phủ trình hoặc báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Chính phủ đối với dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết không do Chính phủ trình; l) Tài liệu khác (nếu có). 4. Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề sau đây: a) Sự phù hợp của nội dung dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết với chủ trương, đường lối của Đảng; b) Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; c) Nội dung của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết và những vấn đề còn có ý kiến khác nhau (nếu có); d) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; đ) Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh; nguồn tài chính; nguồn nhân lực; e) Sự cần thiết, tính hợp lý của thủ tục hành chính; việc phân quyền, phân cấp; việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có); g) Tính khả thi của các quy định trong dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết; h) Ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản và trình tự, thủ tục xây dựng chính sách, soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết. 5. Phương thức thẩm tra: a) Cơ quan chủ trì thẩm tra phải tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra. Trường hợp chưa tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra thì có thể tổ chức phiên họp Thường trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội thẩm tra sơ bộ để kịp trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội; b) Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời cơ quan tham gia thẩm tra hoặc Thường trực cơ quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra; c) Lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo đối với dự án do Chính phủ trình hoặc đại biểu Quốc hội, lãnh đạo cơ quan trình đối với dự án không do Chính phủ trình có trách nhiệm tham dự, báo cáo và giải trình các vấn đề liên quan đến dự án tại phiên họp thẩm tra. 6. Yêu cầu đối với báo cáo thẩm tra: a) Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại khoản 4 Điều này; b) Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan chủ trì thẩm tra, ý kiến của cơ quan tham gia thẩm tra, ý kiến của các Đoàn đại biểu Quốc hội (nếu có) về nội dung dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; nêu rõ dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Quốc hội; trường hợp dự án chưa đủ điều kiện trình thì cơ quan chủ trì thẩm tra báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trả lại hồ sơ cho cơ quan trình để tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện.

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.