Nguyên văn Điều 37. Thẩm tra dự án
1. Đối với dự án trình Quốc hội thì chậm nhất là 45 ngày trước ngày khai mạc
kỳ họp Quốc hội, cơ quan trình phải gửi hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này đến
cơ quan chủ trì thẩm tra để tiến hành thẩm tra và gửi hồ sơ quy định tại khoản 3
Điều này bằng bản điện tử đến Tổng Thư ký Quốc hội - Chủ nhiệm Văn phòng
Quốc hội để gửi đến các Đoàn đại biểu Quốc hội và đăng tải trên Cổng thông tin
điện tử của Quốc hội.
Đối với dự án trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì chậm nhất là 20 ngày
trước ngày bắt đầu phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội, cơ quan trình phải gửi
hồ sơ quy định tại khoản 3 Điều này đến cơ quan chủ trì thẩm tra để tiến hành
thẩm tra.
2. Hội đồng Dân tộc, Ủy ban của Quốc hội chủ trì thẩm tra dự án luật, nghị
quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thuộc
lĩnh vực mình phụ trách và dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết khác do Quốc hội, Ủy
ban Thường vụ Quốc hội giao; tham gia thẩm tra đối với nội dung liên quan đến
lĩnh vực mình phụ trách trong dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết do cơ quan khác
của Quốc hội chủ trì thẩm tra theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp có trách nhiệm tham gia thẩm tra về
tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của dự thảo luật,
pháp lệnh, nghị quyết.
3. Hồ sơ dự án gửi thẩm tra bao gồm:
a) Tờ trình;
b) Dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;
c) Báo cáo tổng kết việc thi hành pháp luật hoặc đánh giá thực trạng quan hệ
xã hội liên quan đến dự thảo;
d) Báo cáo rà soát các chủ trương, đường lối của Đảng, văn bản quy phạm
pháp luật, điều ước quốc tế có liên quan đến dự thảo;
đ) Bản đánh giá về thủ tục hành chính, việc phân quyền, phân cấp, bảo đảm
bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
26 CÔNG BÁO/Số 603 + 604/Ngày 26-3-2025
e) Bản thuyết minh quy phạm hóa chính sách trong trường hợp quy định tại
khoản 2 Điều 27 của Luật này;
g) Bản so sánh dự thảo sửa đổi, bổ sung, thay thế với luật, pháp lệnh, nghị
quyết hiện hành;
h) Bản tổng hợp ý kiến, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội;
i) Báo cáo thẩm định hoặc ý kiến của Chính phủ đối với dự án luật, pháp lệnh,
nghị quyết không do Chính phủ trình;
k) Báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến thẩm định đối với dự án luật, pháp lệnh,
nghị quyết do Chính phủ trình hoặc báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của Chính phủ
đối với dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết không do Chính phủ trình;
l) Tài liệu khác (nếu có).
4. Nội dung thẩm tra tập trung vào các vấn đề sau đây:
a) Sự phù hợp của nội dung dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết với chủ trương,
đường lối của Đảng;
b) Phạm vi điều chỉnh, đối tượng áp dụng của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;
c) Nội dung của dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết và những vấn đề còn có ý
kiến khác nhau (nếu có);
d) Tính hợp hiến, tính hợp pháp, tính thống nhất với hệ thống pháp luật của dự
thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;
đ) Tính tương thích với điều ước quốc tế có liên quan mà nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; bảo đảm yêu cầu về quốc phòng, an ninh;
nguồn tài chính; nguồn nhân lực;
e) Sự cần thiết, tính hợp lý của thủ tục hành chính; việc phân quyền, phân cấp;
việc bảo đảm bình đẳng giới, chính sách dân tộc (nếu có);
g) Tính khả thi của các quy định trong dự thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết;
h) Ngôn ngữ, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản và trình tự, thủ tục xây dựng
chính sách, soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị quyết.
5. Phương thức thẩm tra:
a) Cơ quan chủ trì thẩm tra phải tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra. Trường
hợp chưa tổ chức phiên họp toàn thể để thẩm tra thì có thể tổ chức phiên họp Thường
trực Hội đồng Dân tộc, Thường trực Ủy ban của Quốc hội thẩm tra sơ bộ để kịp trình
Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến trước khi trình Quốc hội;
b) Cơ quan chủ trì thẩm tra có trách nhiệm mời cơ quan tham gia thẩm tra hoặc
Thường trực cơ quan tham gia thẩm tra tham dự phiên họp thẩm tra;
c) Lãnh đạo cơ quan chủ trì soạn thảo đối với dự án do Chính phủ trình hoặc đại
biểu Quốc hội, lãnh đạo cơ quan trình đối với dự án không do Chính phủ trình có
trách nhiệm tham dự, báo cáo và giải trình các vấn đề liên quan đến dự án tại phiên
họp thẩm tra.
6. Yêu cầu đối với báo cáo thẩm tra:
a) Báo cáo thẩm tra phải thể hiện rõ quan điểm của cơ quan thẩm tra về những
vấn đề thuộc nội dung thẩm tra quy định tại khoản 4 Điều này;
b) Báo cáo thẩm tra phải phản ánh đầy đủ ý kiến của thành viên cơ quan chủ
trì thẩm tra, ý kiến của cơ quan tham gia thẩm tra, ý kiến của các Đoàn đại biểu
Quốc hội (nếu có) về nội dung dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết; nêu rõ dự án luật,
pháp lệnh, nghị quyết đủ hoặc chưa đủ điều kiện trình Ủy ban Thường vụ Quốc
hội, Quốc hội; trường hợp dự án chưa đủ điều kiện trình thì cơ quan chủ trì thẩm tra
báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trả lại hồ sơ cho cơ quan trình để
tiếp tục chỉnh lý, hoàn thiện.