Bỏ qua, tới nội dung chính
Cùng bạn chuẩn bị tốt hơn cho kỳ thi và hành trình công vụTin tuyển dụng mới · Tài liệu · Ôn thi Xem cập nhật →
CÔNG VIÊN CHỨCÔn thi vững vàng · Công vụ tự tin
Bài học 214/2025/NĐ-CP

Điều 39. Thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu

Căn cứ: Điều 39, 214/2025/NĐ-CP — Nghị định 214/2025/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu

Tóm tắt

Điều 39 quy định chủ đầu tư không bắt buộc phải thẩm định hồ sơ mời thầu. Nếu có yêu cầu thẩm định thì thực hiện theo Điều 135 Nghị định 214/2025/NĐ-CP trước khi phê duyệt. Việc phê duyệt hồ sơ mời thầu được thực hiện bằng văn bản, căn cứ vào tờ trình phê duyệt và báo cáo thẩm định (nếu có).

Ý chính cần nhớ

  • ▸Chủ đầu tư không bắt buộc phải thẩm định hồ sơ mời thầu.
  • ▸Nếu thẩm định thì thực hiện theo Điều 135 Nghị định 214/2025/NĐ-CP trước khi phê duyệt.
  • ▸Phê duyệt hồ sơ mời thầu bằng văn bản.
  • ▸Căn cứ phê duyệt: tờ trình phê duyệt và báo cáo thẩm định hồ sơ mời thầu (nếu có).

Lưu ý dễ nhầm

  • Nhầm tưởng thẩm định hồ sơ mời thầu là bắt buộc trong mọi trường hợp.
  • Cho rằng báo cáo thẩm định luôn là căn cứ bắt buộc để phê duyệt, trong khi đây là tài liệu '(nếu có)'.

Giải thích

Điều 39 xác định thẩm định hồ sơ mời thầu không phải thủ tục bắt buộc; chủ đầu tư có thể yêu cầu thẩm định, khi đó phải tuân theo Điều 135 của Nghị định 214/2025/NĐ-CP và hoàn thành trước khi phê duyệt. Việc phê duyệt hồ sơ mời thầu phải bằng văn bản, dựa trên tờ trình phê duyệt và báo cáo thẩm định nếu có. Điều này trao quyền chủ động cho chủ đầu tư nhưng vẫn bảo đảm căn cứ pháp lý khi cần thẩm định.
Nguyên văn Điều 39. Thẩm định và phê duyệt hồ sơ mời thầu
1. Chủ đầu tư không bắt buộc phải thẩm định hồ sơ mời thầu; trường hợp có yêu cầu thẩm định thì thực hiện theo quy định tại Điều 135 của Nghị định này trước khi phê duyệt. 2. Việc phê duyệt hồ sơ mời thầu được thực hiện bằng văn bản căn cứ vào tờ trình phê duyệt, báo cáo thẩm định hồ sơ mời thầu (nếu có).

Bài học được biên soạn tự động từ toàn văn chính thức và kiểm tra đối chiếu với nguyên văn Điều luật. Khi có khác biệt, nguyên văn văn bản là căn cứ.